Những triệu chứng nghi thai chết lưu

– Mẹ bị nhiễm độc thai nghén từ thế nhẹ đến thể nặng đều có thể gây ra thai chết lưu. Tỷ lệ thai chết lưu càng cao khi nhiễm độc thai nghén càng nặng và không được điều trị hay được điều trị không đúng. Bệnh kéo dàị nhiều ngày làm cho thai suy dinh dưỡng và chết.

– Mẹ bị nhiễm các bệnh ký sinh trùng như sốt rét (đặc biệt là sốt rét ác tính), nhiễm vi khuấn (như giang mai…), nhiễm viêm (như viêm gan, quai bị, cúm…)-

– Mẹ có tử cung dị dạng, tứ cung nhi tính hay tử cung kém phát triển làm cho thai bị nuôi dưỡng kém.

Ngoài ra, còn có một số yếu tố từ người mẹ làm cho thai chết lưu như:

– Tuổi của mẹ, tỷ lệ thai chết lưu tăng cao ở những người mẹ trên 40 tuổi (cao gấp 5 lần so với nhóm những người mẹ dưới 40 tuôi).

– Dinh dưỡng kém, lao động vât vả, đời sông khó khăn.

Những nguvên nhân từ phía thai như:

– Rối loạn nhiễm sắc thể: Là nguyên nhân chú yếu cúa thai dưới ba tháng bị chết lưu. Rối loạn nhiềm sắc thế có thế là do di truyền từ bố mẹ, có thế là do đột biến trong quá trinh tạo noãn, tạo tinh trùng, thụ tinh và phái triến cùa phôi. Tý lệ rối loạn nhiềm sắc thê tăng ỉên rõ rệt theo tuôi cúa mẹ, đặc biệt là ở các bà mẹ trên 40 tuôi.

– Thai dị dạng: Não úng thủy, vô sọ, phù rau thai.

– Bất đồng nhóm máu giừa mẹ và con do yếu tồ Rh, thai rất dề bị chết lưu ớ các lần có thai tiếp theo.

– Thai già tháng: Bánh rau bị lão hoá, không báo đảm nuôi dường thai, dần đến thai chết lưu nếu không được xử trí kịp thời.

– Đa thai: Thai có thể chết trong trường hợp truyền máu cho nhau, thai cho máu dễ bị chết lưu. Hơn nừa trống quá trinh phát triển có thế có một thai bị chát khi còn bé tiêu đi mà không hê có biêu hiện lâm sàng, trong khi đó thai bên cạnh vần tiếp tục phát triên bỉnh thường. Do đó khi thai còn bé làm siêu âm phát hiện ra song thai, đến khi thai lớn, siêu âm chỉ thấy có một thai. Trường hợp như thế này không phải là hiểm gặp.

Những nguyên nhân từ phần phụ, tử cung như:

– Những bất thường ở dây rốn như dây rón thăt nút, dây rốn quẩn quanh cồ, quanh thân, quanh chi, dây rôn xoăn, dây rốn bị chèn ép…

– Những bất thường ở bánh rau như bánh rau bị xơ hoá, bánh rau bị bong, u mạch máu màng đệm của bánh rau.

– Bất thường ở rurớc ối: Đa ối cấp tính hay mạn tính, thiểu ối.

Bên cạnh đó có khoảng từ 20 – 50% sô trường hợp thai chết lưu là không tìm thấy nguyên nhân, mặc dù có đầy đủ các phương tiện thăm dò hiện đại

Những triệu chứng nghi thai chết lưu í

Ở giai đoạn sớm của thời kỳ thai nghén, các dấu hiệu đế nghĩ đến thai chết lưu rất ít và không rõ ràng. Đó là nhừng phụ nữ đã được xác định là có thai (mất kinh, nghén, thứ HCG dương tính…) tự nhiên thấy ra máu ở âm đạo ít một, máu sâm màu, các dấu hiệu nghén giảm đi, bụng không thấy to lên. Siêu âm thấy tử cung nhở hơn tuôi thai, mật độ từ cung có thế chăc hơn so với từ cung có thai sống, có thể thấy âm vang thai rõ ràng nhưng

Những điều cần biết về thai chết lưu

lần mang thai sau đó. Tuy nhiên, sau mỗi lần chứa trứng cần tránh có thai trong vòng hai năm để có đủ thời gian theo dõi và tiên lượng nguy cơ chuyển thành ác tính. Khi muốn có thai trở lại, nhất thiết phải kiểm tra nồng độ HCG trong nước tiểu.

Phòng ngừa chửa trứng

Để phòng ngừa thai trứng, cần ăn uống đầy đủ chất dinh dường, vệ sinh cơ quan sinh dục sạch sè, sinh đẻ có kế hoạch, không sinh con quá gần nhau, nên đi khám thai định kỳ. Nếu đã điều trị thai trứng thi sau đó phái tuân theo mọi sự chì dẫn của bác sĩ.

Trong thời gian sống trong từ cung, mặc dù được mẹ báo vệ nhưng thai vẫn có thể bị chết ở bất kỳ thời điếm nào. Thai chết lưu là tất cả các trường hợp trứng đà thụ tinh và làm tổ được trong tứ cung, nhưng không phát triến được thành thai nhi trướng thành, bị chết và lưu lại trong tử cung trên 48 giờ.

Những nguy cơ đối với sức khoẻ của người mẹ khi thai chết lưu

Trước hết, thai chết lưu thường gây nên cám giác lo lắng sợ hài ở người mẹ và mọi người trong gia đình vì bị ám ánh bởi việc đang mang một xác chết trong bụng. Tuy nhiên, phải nói ngay rằng cái thai chết đó không gây nên mối nguy hiểm gì cho sức khỏe và tính mạng của người mẹ khi không có biến chứng.

Về tiến triển, thai chết lưu trong trường hợp còn quá non tháng (1-2 tháng) có thể tự tiêu biến đi. Nhiều khi chính bà mẹ cũng không biết mình đã có thai và thai đã chết lưu. Nếu thai đã lớn thì sẽ sầy (thai 3 – 6 tháng) hoặc được cho (thai trên 6 tháng) ra ngoải. Tuy vậy, thời hạn từ khi thai chết lưu đến lúc sảy hoặc đẻ ớ mồi người, một khác. Thông thường thai chết ớ tuổi thai càng lớn thỉ thời gian lưu lại trong buồng tứ cung càng ngắn. Quá trình sấy hoặc đẻ của thai chết lưu diễn biến như các ca sầy hoặc đẻ bình thường nhưng thời gian dọa sấy vả chuyên dạ đẻ thưởng dài hơn và máu có thể ra nhiều hơn. Cùng phái có các cơn co hóp của dạ con gây đau, chỗ dạ con phải co bóp hết thì thai mới có thể ra được.

Điều nguy hiểm nhất đối với người bị thai chết lưu là ối bị vỡ sớm khi chưa có dấu hiệu sấy hay chuyển dạ, vì qua nơi màng ối rách, ví khuẩn sỗ vào buồng ối và dạ con gây nhiềm khuẩn trầm trọng, lúc này có thể nguy hiêm đến tính mạng của người mẹ.

Điều nguy hiếm thứ hai là khi thai lưu lại quá lâu trong dạ con (3 – 4 tuần trớ lên| có thể gây ra tình trạng rối loạn đông máu dẫn đến băng huyết nặng ở người mẹ sau sảy hoặc đẻ.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng thai chết lưu

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thai chết lưu và cũng cố rất nhiều trường hợp thai chết lưu mà không tìm được nguyên nhân.

Những nguyên nhân từ phía người mẹ như sau:

– Mẹ mắc các bệnh lý mãn tính: Viêm thận suy gan thiếu máu, lao phối, bệnh tim, huyết áp cao…

– Mẹ mắc các bệnh nội tiết: Basedow, thiếu năng thể trạng, tiểu đường, thiếu năng hay cường năng thượng thận

Xử lý và điều trị chửa trứng

hoặc cháy máu ồ ạt dẫn đến thiếu máu.

– Nghén nặng: Thường nôn nhiều (có thế do nội tiết tố rau thai tăng tiết), đôi khi xuất hiện phù nề.

– Nếu đã sinh đẻ có thế nhận thấy bụng to nhanh hơn bình thường.

– Siêu âm thấy kích thước của tứ cung to, không tương xứng với tuổi thai, mềm, thấy hình lỗ chỗ trong khối rau như hình ảnh tuyết rơi.

– Siêu âm không có âm vang thai trong tử cung.

– Không nghe thấy tim thai (tim thai âm tính).

– Khám âm đạo và phần phụ có thế thấy nhân di căn âm đạo, to bằng ngón tay, màu tím sầm, dề vỡ, gây chảy máu và có thể thấy nang hoàng tuyến (ở một hoặc hai bên buồng trứng) mọng, dễ di động.

– Xét nghiệm nước tiểu thấy nồng độ HCG tăng cao, trên 30.000 đơn vị

Tiến triển của bệnh

Nếu không chẩn đoán sớm và xử trí kịp thời có thể gây:

– Băng huyết do sảy trứng, nguy hiểm đến tính mạng thai phụ.

– Thủng tứ cung do trứng ăn sâu vào cổ tứ cung làm thủng lớp cổ tứ cung, gây chảy máu vào ố bụng.

– Ung thư tế bào nuôi phân thai, sau đó lan sang gây ung thư cho mẹ.

Thai trứng có loại lành tính và ác tính. Khoáng 30° thai trứng lành tính tai biến thành ác tính. Các yếu tố có nguy cơ ác tính:

– Kích thước tứ cung trước nạo to hơn tuối thai 20 tuần

– Có hai nang hoàng tuyến to hai bên.

– Nồng độ HCG tăng rất cao.

– Có biến chứng của thai trúng như: nhiềm độc thai nghén, cường tuyến giáp.

– Chửa trứng lặp lại.

Xử lý và điều trị chửa trứng

Nếu nghi ngờ bị thai trứng cần đi siêu âm để biết kết quá chăc chăn. Nếu đúng là thai trứng cần lấy trứng ra càng sớm càng tốt đê đề phòng sáy trúng, cháy máu nhiều và phát triển thành ác tính. Nếu trứng chưa sảy có thể nạo, hút. Nếu đang sảy thì có thể hút hoặc gắp trứng ra thật sạch. Riêng đối với những phụ nữ trên 40 tuối hoặc không muốn có con nữa bác sĩ thường chi định cắt bó tử cung, nhăm dự phòng biến chứng ác tính.

Ngay sau khi nạo trứng, cần gửi tổ chức nạo để xét nghiệm giải phẫu bệnh lý xem chửa trứng ác tính hay lành tính. Và cần theo dòi sự co hồi của tử cung, nang hoàng tuyến, nhân di căn. Nếu thấy tử cung vần to, nang hoàng tuyến không mất đi hoặc xuất hiện nhân di căn thì nguy cơ ác tính rất cao. Thời gian theo dõi trong 6 tháng đầu mồi tháng một lần, sau một năm ba tháng một lần cho đên hêt hai năm. Đặc biệt, sau nạo trứng cân theo dõi nông độ HCG trong nước tiêu: I – 2 tuần một lân cho đến khi âm tính ba lần liên tiếp. Trong vòng một năm đầu cần thử hai tháng một lần.

Sau một lần bị chửa trứng, phụ nừ có thể bị chứa trứng trong lần mang thai tiếp theo. Song vần có nhiều trường hợp có thế mang thai bình thường trong những

Những điều cần biết về chửa trứng

Chửa trứng là một hiện tượng thai nghén bất thường, Đây là hiện tượng thường gặp ở những nước có nền kinh tế kém phát triển. Theo số liệu thông kêcủa Bộ Y tế, ở nước ta tỷ lệ gặp chửa trứng khá cao: 1/500 người có thai.

Thế nào là chửa trứng

Thông thường sau khi trứng được thụ tinh sẽ phân chia rất nhanh để cấu tạo thành thai và phần phụ của thai (như túi ối, gai rau, rau…)- Sự phát triền giữa phần thai và phần phụ cúa thai phái tương ứng với nhau. Tuy nhiên, cỏ nhừng trường hợp te bào nuôi (phần phát triển thành gai rau) phát tricn quá nhanh nên tô chức liên kết và các mao mạch của mạch máu ron của gai rau không phát triền kjp nên gai rau bị thoái hoá, sưng mọng lên và tạo thành các túi chứa dịch dính vào nhau như chùm nho, thường chiếm toàn bộ diện tích buồng tử cung. Các tổn thương này đã làm trứng hỏng nhưng gai rau vẫn được nuôi dường bằng máu mẹ nên vẫn tiếp tục hoạt động. Hiện tượng này gọi là hiện tượng chửa trứng.

Nguyên nhân gây chửa trứng

Hiện nay, vẫn chưa xác định được một cách chính xác nguyên nhân gây chửa trứng. Y học mới xác định một số yếu tố làm tăng nguy cơ chửa trứng như:

– Tuổi cúa người mẹ (một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu tuổi của người mẹ khi mang thai trên 40 tuổi thì nguy cơ chửa trứng tăng 5,2 lần so với những bà mẹ mang thai ở độ tuổi từ 21 đến 35. Đồng thời, nếu tuôi của người mẹ khi mang thai dưới 20 tuổi thì nguy cơ chửa trứng cùng tăng đáng kế).

– Có tiền sứ thai nghén lần đầu không bình thường.

– Đã đẻ nhiều lần.

– Thiếu chất dinh dường (chủ yếu là đạm).

Các loại chửa trứng

Chửa trứng có hai loại: Chứa trứng hoàn toàn và chửa trứng không hoàn toàn.

– Chừa trứng hoàn toàn: Là loại chửa trứng không có tổ chức thai, các gai rau phình to, mạch máu lông rau biến mất, lớp tế bào nuôi tăng sinh mạnh.

– Chửa trứng không hoàn toàn (hay còn gọi là chửa trứng bán phần): có tố chức thai hoặc một phần thai, màng ối, thai có thế còn sống hoặc đã chết, các gai rau phù nề.

Các triệu chứng nghi chửa trứng

Nếu thai phụ có các triệu chứng bất thường sau có thẻ nghi chứa trứng:

– Ra máu: Thường ra máu sớm trong 3 tháng đầu của thai kỳ, máu thường nâu đen, có thể đó, ra dai dăng

Tuổi của bố mẹ ảnh hưởng tới thai nhi

5. Tia rơn-ghen và tia phóng xạ

Đê tránh chết thai, đẻ non, dị tật, ung thư máu và  bệnh di truyền… thầy thuốc thường không cho thai phải chiếu điện vì các tia rơn-ghen và tia phóng xạ phá hủy ADN rất mạnh, làm rối loạn sự sắp xếp các nhiềm sẳc thể trong tế bào.

6. Tuổi của bố mẹ

Phụ nữ ở tuồi 22, các cơ quan trong cơ thế đã hoàn thiện, phần lớn chị em đã có nghề nghiệp, có thể tự lập trong cuộc sống, đã có một ít kiến thức về xã hội, thụ thai, dường thai, đé và nuôi dạy con. ở tuổi này, người phụ nữ mới đủ tư cách làm mẹ. Người chồng thường lớn hơn người vợ vài tuối hoặc cùng tuổi. Đến độ đó, thể chất và tinh thần đã phát triển, đủ tư cách trở thành người bố. Việc sinh con quá sớm ánh hướng không ít tới sức khóe của bà mẹ và trẻ em.

Con đầu lòng thường kém khỏe mạnh và thông minh hơn con sau. Nguyên nhân chính là:

+ Bố mẹ non trẻ, trứng và tinh trùng chưa thuần thục.

+ Chưa có ý thức chuấn bị để chủ động thụ thai.

+ Mẹ chưa có kiến thức về dường thai, đẻ, nuôi dạy con.

+ Mẹ mang nặng tâm lý “sợ thai to khó đẻ” nên dù có điều kiện cùng không dám bồi dường, phái kiêng khem, muốn thai bé cho dễ đẻ, xáy ra tình trạng “mẹ tròn con méo”. Các bạn trẻ cần rút kinh nghiệm để con đầu khói bị thiệt thòi.

Ngoài ra, cần hết sức quan tâm đên con của nhừng cặp vợ chồng lớn tuôi. Con của các bà mẹ lớn tuổi dễ mắc bệnh Dovvn hơn so với con của bà mẹ ít tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy, nguy cơ bị bệnh Down ở con cùng tăng dần theo tuổi của người cha. Nguy cơ con mắc bệnh cũng tăng ở các bà mẹ quá trẻ (dưới 20 tuối).

Bệnh Down thường xuất hiện ở con của nhừng cặp vợ chồng già là do tế bào người già đã giảm dần khả năng thực hiện chính xác các chức năng phân bào, khiến tần số đứt gây nhiễm sắc thế và các sai lệch về số lượng nhiềm sắc thể tăng. Để có con khoe mạnh thông minh, người mẹ nên sinh con trong khoảng 22 – 30 tuối.

Những yếu tô gây hại cho tinh trùng, trứng và thai nhi

thể nằm ngứa, nằm sấp, ngồi bò bốn chân.

Tập thư giãn toàn thân. Đây là khâu quan trọng nhất vi lúc đc can giàn mềm những cơ bắp không cần thiết, chỉ co rút những cơ cần thiết. Hạn chế sự trương cơ tràn lan

Tập làm chủ hơi thở

Tập điều khiến cơ hoành và các cơ phối hợp. Trong lúc rặn đc, sán phụ cần rặn lúc đă thở vào, chứ không thở ra hết rồi mới rặn. Lúc rặn, sứ dụng cơ hoành đây tử cung xuống vả sử dụng các cơ ở phần trên lông ngực đẻ thớ (lúc này thớ rất nhanh và nông). Giừa hai cơn rặn, cẩn lấy hơi lại ngay và giàn mồm toàn thân.

Những yếu tô gây hại cho tinh trùng, trứng và thai nhi

Nhiệt độ môi trường

Người mẹ dễ nóng hơn người khác do khi có thai, lớp mở dày lên. Tuy nhiên, khả năng chống lạnh cùa mẹ lại tốt hơn. Nếu có sự thay đổi nhiệt độ kéo dài (như đi lâu dưới trời nắng, làm việc lâu nơi quá nóng, sốt cao hay nhiễm lạnh), thai sẽ bị ảnh hưởng. Vì vậy, các bà mẹ đang mang thai không được làm việc lâu (hoặc ở lâu) trong môi trường quá nóng, quá lạnh; ngay cả việc tắm nóng, tắm lạnh cùng cần phái có mức độ.

2. Áp lực ôxy

ôxy hết sức cần thiết cho một cơ thể đang phát triển rất nhanh như bào thai. Người mẹ phải ở nơi thoáng, đủ ôxy thi thai mới dễ chịu. Tình trạng thiểu ôxy ở ba tháng đầu có thể khiến thai mất năo, biến dạng xương, có khuyết tật ở tim, mạch. Ớ ba tháng cuối, thai chịu đựng tốt hơn nhưng vần khó tránh được những thiểu sót về chức năng; khá năng trí tuệ, khả năng đề kháng, miền dịch… của đứa trẻ sau này nhất định bị giám sút.

3. Thuốc chữa bệnh và thuốc bổ

Nhiều thứ thuốc có lợi và vô hại cho mẹ lại có hại lớn cho thai. Thuốc aspirin gây chảy máu ở thai nếu mẹ dùng liều cao vào những tháng cuối. Vitamin D cần cho bà mẹ và thai nhi nhưng nó cũng gây ra tinh trạng thai chết, quái thai, dị tật, nhiễm độc thai nếu dùng quá liều lượng và không đúng lúc. Đối với các loại kháng sinh lại càng phải thận trọng. Nói chung, nếu dùng thuốc bệnh hoặc thuốc bổ, phải nhờ thầy thuốc chuyên khoa hướng dẫn.

4. Vi khuẩn và virus

Vi khuẩn và virus có thể thông qua tinh trùng và trứng gây tổn thương cho thai khi nó mới hình thành. Vi khuẩn của bệnh hoa liễu đã gây bao nỗi khủng khiếp cho bà mẹ và có thế truyền cho các thế hệ sau. Vi rus của các bệnh cúm, sởi, sốt xuất huyết, viêm gan, rubêôn, quai bị… hay gây chết thai và quái thai. Nếu trong thời kì mang thai bà mẹ mắc bệnh sởi cẩn phái thăm khám kịp thời vì dể làm cho trẻ dị tật ở tim, khiếm thính, kém phát triển trí tuệ… Các bà mẹ chưa nên thụ thai nếu ba tháng trước đó vừa mắc sởi.

Các thống kê cho thấy, nếu bà mẹ bị cúm lúc thai dưới ba tháng thì nguy cơ thai bị dị tật là 37%; nếu bị muộn hơn, nguy cơ này là 13%. Một số trẻ bị bệnh bạch cẩu do mẹ bị cúm khi có thai. Trong các trường hợp trên, cần xin ý kiến thầy thuốc đế xử lý sớm.

Chữa trị bệnh không mang thai

hóa lỏng. Mỗi ml có chứa trên 60 triệu tinh trùng, tinh trùng hoạt động chiếm trên 60%, tinh trùng dị hình không vượt quá 20%. Những người không đạt theo các tiêu chuẩn trên thì cần xem xét tối khả năng tinh dịch bất thưòng.

3. Tinh trùng ít: Quá số lượng các tinh dịch đã kiểm tra nhiều lần, thông thường, nếu số lượng tinh trùng trong mỗi ral tinh dịch ít hơn 60 triệu thì không phải là không thế thụ thai, nhưng cơ hội thụ thai bị giảm ít. Thưòng thì nếu những người có sô lượng tinh trùng trong mỗi ml tinh dịch ít hơn 20 triệu con mà không tiến hành điều trị sẽ rất khó thụ thai. Do lượng tinh trùng ít, nồng độ Hyaluronidase trong suốt cũng thấp, cơ hội thụ thai ở nữ giới cũng vì thế mà bị ảnh hưởng.

4. Tinh dịch không hóa lỏng: là hiện tượng tinh dịch không hóa lỏng trong vòng 1 tiếng sau khi phóng tinh; trong điều kiện bình thường, 30 phút sau khi tinh dịch thoát ra ngoài cơ thể sẽ tự hóa lỏng. Nếu không hóa lỏng sẽ ảnh hưởng lớn đến sức sống của tinh trùng, thòi gian dừng lại ở âm đạo càng dài thì tỷ lệ tinh trùng chết càng cao, khả năng thụ thai sẽ bị giảm bớt.

5. Lượng xuất tinh không đủ: Thông thường, mỗi lượng phóng tinh mỗi lần là 3-5ml, khi lượng phóng tinh nhỏ hơn 2ml thì sẽ không đủ để hòa tan chất nội tiết có tính axit ở âm đạo, tạo nên nhân tố ảnh hưởng đến thụ thai.

6. Cơ quan sinh dục bất thưòng: Nguyên nhân về bệnh ở cơ quan sinh dục xét trên hai phương diện: bẩm sinh và sau khi sinh ra. Chẳng hạn những vấn đề như: tinh hoàn phát triển không đầy đủ, tắc ống dẫn tinh, niệu đạo hạ liệt…đều có thể ảnh hưởng đến thụ thai.

3. Chữa trị bệnh không mang thai

Về phương diện hiệu quả lâm sàng, chữa trị bệnh không mang thai là khá tốt, tránh được những yếu tố bất lợi đến quá trình thụ thai đã nói tới ở trên; biết rõ thời điểm rụng trứng rồi mới tiến hành quan hệ cũng là một trong những phương pháp hàng đầu để chữa trị bệnh không mang thai.

Có thể sử dụng 3 phương pháp tính toán để xác định thời gian rụng trứng

(1) Phương pháp theo lịch: Chu kỳ kinh nguyệt bình thường ỏ nữ thường là 28 ngày, nhưng thường ở mỗi người lại khác nhau và dao động trong những thời kỳ khác nhau; trong khoảng 26-30 ngày là bình thường, tức là kinh nguyệt đến sớm hoặc đến trễ 3-5 ngày đều thuộc phạm vi bình thường. Thời gian rụng trứng thường là 14 ngày trước kỳ kinh nguyệt của tháng tiếp theo, vợ chồng quan hệ tình dục vào thời điểm này là dễ thụ thai nhất. Vì thê, vói những đôi vợ chồng muốn sinh con thì tốt nhất là quan hệ vào ngày thứ 10~16 của chu kỳ kinh nguyệt, sẽ có lợi cho việc thụ thai.

(2) Theo dõi nhiệt độ của cơ thể: Đo ngay nhiệt độ cơ thể vào lúc vừa thức dậy vào buổi sáng, ghi lại các kết quả nhiệt độ đo được vào “Biểu đo nhiệt độ cơ thể cơ sở, nối các điểm nhiệt độ đo được hàng ngày vào với nhau thành đường là có thê nhìn thấy được sự thay đổi nhiệt độ cơ thể trước khi rụng trứng: trước hết là giảm rõ rệt (Nhiệt độ cơ thể trong vòng 24 tiếng đồng hồ trước khi trứng rụng là thấp nhất), tiếp theo đó, khi nhiệt độ cơ thể đột nhiên tăng cao 0.4~0.8°c thì đó chính là dấu hiệu trứng rụng. Sau đó, nhiệt độ cơ thể sẽ giữ nguyên ỏ mức này cho đến khi bắt đầu chu kỳ kinh nguyệt tháng tiếp theo.

(3) Quan sát sự thay đổi của dịch âm đạo: Chất nhầy ở cổ tử cung của nữ giới trong độ tuổi sinh đẻ thường biến đối có tính chu kỳ trong các chu kỳ kinh nguyệt. Sự thay đổi này giúp tinh trùng vượt qua được và có tác dụng bảo vệ cho sự tồn tại của tinh trùng trong môi trường bất lợi ở âm đạo. Gân

Nguyên nhân không mang thai ở nữ

giới không có thai. Nguyên nhân không mang thai có thể chia làm hai loại: nguyên nhân ban đầu và nguyên nhân kế tiếp. Chứng không mang thai do nguyên nhân ban đầu thường để chỉ vợ chồng sống chung sau khi kết hôn chưa từng mang thai. Chứng không mang thai do nguyên nhân kế tiếp xảy ra sau khi sảy thai, nạo thai, triệt sản gây ra.

1. Nguyên nhân không mang thai ở nữ

Không mang thai do khiếm khuyết sinh lý bẩm sinh ở nữ: Theo Đông y, loa, văn, giác, mạch là những người không có khả nàng mang thai; những người mang thai loại này thì không có thuốc nào chữa trị được, gọi là không mang thai tuyệt đối.

2/ Không mang thai do nhân tố bệnh lý: đa số sau khi thực hiện chữa trị vẫn có khả năng mang thai. Từ góc độ Đông Y, có thể phân tích việc không mang thai do các nhân tố sau: thận hư, huyết hư, tụ huyết, buồn rầu và trị đờm.

Phân tích từ góc độ Tây y, có thể thấy các nhân tô” chủ yếu sau:

(1) Chức năng buồng trứng rốĩ loạn: Phần lớn do mất cân bàng nội tiết xuất phát từ việc người phụ nữ tinh thần căng thẳng và lo âu hoặc dinh dưỡng không tốt gây ra. Bệnh mãn tính, u buồng trứng, đa nang buồng trứng, buồng trứng bẩm sinh phát triển không toàn diện…đều có thể làm cho chức năng buồng trứng không ăn khớp, ảnh hưởng đến cơ chế rụng trứng, dẫn đến không mang thai.

(2) Nhân tố ống dẫn trứng: Nếu ống dẫn trứng bị viêm làm tắc ống dẫn trứng thì trứng không thể lọt qua được, ảnh hưỏng đến sự kết hợp giữa tế bào trứng và tinh trùng, dẫn đến không mang thai.

(3) Nhân tố tử cung: những hiện tượng bất thường như vị trí tử cung quá nghiêng và cong vào trong, kết hạch màng trong tử cung, u cơ tử cung, tử cung phát triển không đầy đủ, phản ứng màng trong tử cung kém…đều ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng làm tổ của tế bào tinh noãn, gây ra nguyên nhâu không mang thai.

(4) Nhân tố cổ tử cung: những hiện tượng như cổ tử cung hẹp, viêm cổ tử cung, thịt thừa ở cổ tử cung, u cơ cổ tử cung…cản trỏ tinh trùng vượt qua, tinh trùng không có cơ hội gặp được trứng. Đây cũng còn là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc thụ thai.

(5) Nhân tố âm hộ, âm đạo: nếu màng trinh bị hẹp, hậu âm đạo bẩm sinh, viêm ầm đạo nặng sẽ có thê làm giảm sức sông của tinh trùng, ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ thai. Còn bệnh hậu âm đọo bẩm sinh thì trực tiếp ảnh hưởng đến những sinh hoạt tình dục, không có cơ hội mang thai.

2. Nguyên nhân dẫn đến không mang thai ở nam

2.1. Trở ngại về chức năng của nam giới

(1) Dương vật: thường gọi là bệnh liệt dương, không thể tiến hành giao hợp nên không thể mang thai.

(2) Xuất tinh sớm: là hiện tượng xuất tinh I nam giới khi chưa giao hợp, làm cho tinh trùng không thể xâm nhập được vào âm đạo dẫn đến không mang thai.

(3) Di tinh: thường gọi là thất tinh, người bị di tinh nhiều sẽ làm giảm số lượng tinh trùng dẫn đến không mang thai.

(4) Không phóng tinh: tuy có thể sinh hoạt tình dục bình thường nhưng trong khi quan hệ, không phát ra tinh dịch dẫn đến không mang thai.

2.2. Tinh dịch bất thường:

Thông thường, tinh dịch ở nam là thể dịch trong suốt có màu trắng hoặc trắng đục, trung bình mỗi lần có thể phóng ra 3-5ml, sau khi thoát ra ngoài cơ thể khoảng 30 phút thì tự

Phòng trị bệnh không hợp nhóm máu Rh

4. Thế nào là nhóm máu A, B, O không hợp

Nữ giới có nhóm máu O sau khi kết hôn với nam giới mang nhóm máu AB, khi mang thai, thai nhi có khả năng có chứng không hợp nhóm máu ABO. Nhưng nếu so sánh với không hợp vối nhóm máu Rh thì lượng vàng da ở trẻ mới sinh bị mắc bệnh ít hơn, mức độ cũng nhẹ hơn. Từ sự tiến bộ của y học hiện nay, có thê thấy đã có thể hoàn thoàn phòng tránh được tính nguy hại do căn bệnh này gây ra.

5. Phòng trị bệnh không hợp nhóm máu Rh

Không hợp nhóm máu Rh phát sinh do người mẹ có nhóm máu Rh âm tính, mang thai nhi có nhóm máu Rh dương tính gây ra.

Dịch huyết của mẹ Rh âm tính khi gặp dịch huyết của thai nhi Rh dương tính thì giống như gặp phải một vật thế lạ vây, khiến cho cơ thể me sản sinh ra loai kháng thê đôi kháng với dịch huyết của thai nhi. Anh hưởng của loại kháng thề này đối vối thai nhi được quyết định bởi lượng kháng thể này nhiều hay ít.

Ở lần mang thai đầu tiên, phản ứng loại này khá trễ, ảnh hưởng đối với thai nhi cũng nhỏ, thường thì thai nhi đều có thể vượt qua một cách thuận lợi. Nhưng nếu mang thai những lần tiếp theo, thai nhi vẫn là nhóm máu Rh dương tính thì sẽ có ảnh hưởng lớn đến thai nhi. Bỏi lẽ, trong cơ thể mẹ vốn còn tồn tại kháng thể đối với máu của thai nhi từ đầu nên hồng cầu của thai nhi sẽ bị phá hoại dần dần, có thê làm xuất hiện chứng vàng da nặng, làm cho tế bào thần kinh não của thai nhi bị tổn hại gây ra trỏ ngại về trí lực, hậu quả rất nghiêm trọng.

Để tránh hiện tượng này, người phụ nữ tốt nhất cần phải biết rõ nhóm máu của mình. Nếu vợ chồng có khả năng không hợp nhóm máu Rh thì có thể kiểm tra trị số kháng thể dịch huyết của bà mẹ mang thai vào giai đoạn đầu, giữa và cuối của quá trình mang thai. Nêu cân thiet, co the thay máu sớm cho đứa trẻ được sinh ra, tránh bị vàng da hạch thì hiệu quả vẫn rất tốt.

Đối với chứng không hợp nhóm máu Rh do mang thai lần thứ 2 gây ra, cũng có cách để phòng tránh. Sau khi sinh lần thứ nhất, có thể làm các kiểm tra về kháng thể huyết dịch nếu kháng thể còn sản sinh thì tốt nhất là tiêm vào cơ thể mẹ thuôc kháng globulin D trong vòng 72 tiếng sau khi sinh để tránh việc cơ thể mẹ sản sinh kháng thể, làm tốt công tác chuẩn bị cho lần mang thai thứ hai sinh được em bé khỏe mạnh.

Tất nhiên, đôi với chứng không hợp nhóm máu Rh, sảy thai tự nhiên và nạo phá thai trong giai đoạn đầu mang thai và do sơ suất truyền máu nhóm Rh dương tính cũng làm cho cơ thê mẹ sản sinh ra kháng thể; ảnh hưởng của những việc này đôi với lần mang thai thứ hai đều không thể xem nhẹ.

IV. Chữa trị và chăm sóc chứng bệnh không mang thai

Sinh con sau khi kết hôn tuy là một việc rất tự nhiên nhưng không phải là cặp vợ chồng nào cũng đều có thể thụ thai. Theo thống kê nhũng năm gần đây ở các nưốc phương Tây: Trong số các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có khoảng 15% số cặp vợ chồng không sinh con, trong đó, nguyên nhân không sinh con từ phía nam và phía nữ mỗi bên chiếm 1/2.

Thế nào là Chứng bệnh không mang thai? Là việc vợ chồng sinh hoạt cùng nhau, không áp dụng bất cứ biện pháp tránh thai nào trong thời gian một năm trở lên mà người nữ

Nhóm máu của mẹ con và ưu sinh

trong bụng mẹ, tất nhiên đây cũng là kết quả từ di truyền gen của người cha và không thay đổi trong suốt cuộc đời.

Loài người có hai hệ thống nhóm máu, hệ thống ABO và hệ thông Rh. Trong đó, hệ ABO lại chia thành 4 nhóm máu: A, B, AB và 0. Sự hình thành nhóm máu do loại kháng nguyên trên màng tê bào quyết định. Ví dụ, trên màng hồng cầu là kháng nguyên A, thì nhóm máu của người đó sẽ là nhóm máu A; là kháng nguyên B thì nhóm máu của người đó sẽ là nhóm máu B; nếu có cả kháng nguyên A và kháng nguyên B thì nhóm máu có tên là nhóm máu AB; nếu trên màng tế bào hồng cầu không có kháng nguyên A, cũng không có kháng nguyên B thì nhóm máu có tên là nhóm máu o.

Hệ Rh bao gồm hai nhóm máu, Rh dương tính và Rh âm tính. Cách phân chia này căn cứ vào việc xem xét trên màng tê bào hồng cầu có kháng nguyên Rh hay không. Nếu có kháng nguyên Rh là Rh dương tính. Ngược lại, nếu không có kháng nguyên Rh là Rh âm tính. Nguyên lý máu hòa tan trong hệ Rh hình thành giống như hệ ABO. Điều cần chú ý ỏ đây là: những người có nhóm máu khác nhau thì không thể truyền máu cho nhau, kể cả những người có cùng nhóm máu thì trước khi tiếp máu cũng cần phải thực hiện các phản ứng ngưng tụ dịch huyết, nếu không có phản ứng mới có thể thực hiện truyền máu, nếu không sẽ có khả năng ngưng tụ dịch huyết gây nguy hiểm đến tính mạng.

2. Nhóm máu của mẹ con và ưu sinh

Giữa nhóm máu và bệnh vàng da có một mối liên hệ nhất định. Về mặt bệnh lý thường gặp những đứa trẻ mối sinh ra xuất hiện vàng da, một số trẻ mắc bệnh do mẹ có nhóm máu 0, hoặc nhóm máu Rh âm tính gây ra. Trong thòi gian mang thai, dịch huyết của bà mẹ và của thai nhi có qùá trình trao đối vật chất tuần hoàn cung cấp oxy và nhu cầu về chất dinh dưỡng cho thai nhi. Nếu nhóm máu của thai nhi không hợp với cơ thể mẹ, cơ thể mẹ sẽ sản sinh ra một loại kháng thể, loại kháng thể này sẽ cùng với dịch huyết của mẹ đến nhau thai nhập vào trong dịch huyết của thai nhi gây ra phản ứng kháng thể kháng nguyên giữa kháng thể này với hồng cầu trong dịch huyết của thai nhi phá vỡ hồng cầu, thai nhi sẽ có biểu hiện vàng da nặng và thiếu máu. Đây chinh là. quá trinh máu hòa tan. Vì vậy, trước khi mang thai, tôt nhất cần tìm hiểu nhóm máu của hai bên, nếu có vấn đề về phương diện này, cần xin hướng dẫn của bác sỹ, về mặt lâm sàng vân có thể giảm bớt và tránh được những bệnh do vàng da gây nên và những nguy hiểm của di chứng.

3. Quan hệ di truyền giữa nhóm máu của bố mẹ và nhóm máu của con cái