Bệnh nhiễm khuẩn chlamydia

bằng tia laze, hoặc axit, nên tránh dùng. Hãy thảo luận vấn đề này với chuyên gia y tê của bạn.

Nếu bạn bị bệnh mụn cơm sinh dục quá nặng, phương pháp mổ đẻ là cần thiết để tránh trường hợp chảy máu quá nhiều. Phần da do các mụn cơm sinh dục thường lan nhanh trong khi mang thai. Trong một sô” trường hợp hiêm hoi, chúng có thể gây nên các trở ngại trong âm đạo vào thời điểm sinh nở. Trẻ sơ sinh cũng có thể mắc phải bệnh mụn cơm ở thanh quản (thường có những nốt sưng tấy tại vùng dây thanh âm) sau khi sinh.

* Bệnh lậu

Bệnh lậu thường nảy sinh các nguy cơ ở ngưòi phụ nữ và đối tác tình dục của cô ta, thậm chí cả ở đứa con khi nó đi qua đưòng sinh sản. Đứa trẻ khi sinh ra thường bị nhiễm bệnh đau mắt do bệnh lậu gây ra, một trường hợp viêm nhiễm mắt nghiêm trọng. Thuốc nhỏ mắt thưòng được sử dụng nhất ở trẻ sơ sinh để tránh tình trạng này. Một sô” các tình trạng lây nhiễm khác cũng có thê xảy ra. Bệnh lậu xuất hiện ở người mẹ thường được chữa trị bằng penicillin và một số loại dược phẩm khác được coi là àn toàn trong thời gian mang thai.

* Bệnh nhiễm khuẩn chlamydia.

Có thể bạn đã nghe hoặc đọc được những thông tin. về bệnh chlamydia. Đây là một bệnh lây lan phổ biến qua đường tình dục; trong khoảng từ 3 đến 5 triệu người bị nhiễm hàng năm. Rất khó để có thể xác định được bạn có bị nhiễm bệnh chlamydia háy không vi có thể bạn không có triệu trứng nào cả. Sự lây nhiễm có thế được gây ra do một loại mầm bệnh thâm nhập vào dạng tê bào nhất định. Sự truyền nhiễm có thê lây lan qua các hoạt động quan hệ tình dục, kể cả bằng miệng.

Có từ 20 đến 40% những phụ nữ hoạt động tình dục bị mắc phải bệnh này vào một thời điểm nào đó. Sự lây nhiễm có thể gây ra những hậu quả nặng nể nếu không được cứu chữa kịp thời, và chúng có thể hoàn toàn bị gạt bỏ nếu có sự chữa trị kịp thời.

Chlamydia có khả năng xảy ra nhiều hơn ở những thanh niên, những người có trên 1 đôi tác tình dục. Chúng cũng có thể xuất hiện ở những phụ nữ mắc phải một sô căn bệnh tình dục. Một sô bác sĩ tin rằng bệnh Chlomydia xuất hiện nhiều hơn ỏ những phụ nữ dùng phương pháp tránh thai bằng miệng. Một sô” phương pháp tránh thai, chẳng hạn như nắp cao su, bao cao su được sử dụng kèm với chất diệt tinh trùng có thể giúp tránh khỏi các trường hợp lây nhiễm.

Một trong các biến chứng phức tạp nhất của bệnh chlomydia là bệnh viêm nhiễm khung xương chậu (PID), một bệnh lây nhiễm nguy hiểm ở các cơ quan phía trên bộ phận sinh dục bao gồm tử cung, ống dẫn trứng và thậm chí là cả buồng trứng. Có thê có xuất hiện trường hợp đau ở vùng chậu hoặc chẳng có triệu chứng nào cả. Bệnh PID có thê gây ra do tình trạng lây nhiễm lâu dài mà không được chữa trị khiến nó lan dần ra quanh khu vực xương chậu. Chlamydia là một nguyên nhân chính của bệnh PID. Nếu bệnh PID kéo dài hoặc tái diễn nhiều lần thì sẽ khiến cho bộ phận sinh sản, vòi dẫn trứng và tử cung bị hư hỏng gây nên sự hình thành của bệnh kết dính. Phẫu thuật là một phương pháp nên được tiến hành trong trường hợp này. Nếu như vòi dẫn trứng bị hư hỏng, các mô sẹo có thê làm tăng nguy cơ của trường hợp mang thai ngoài dạ con (vòi dẫn trứng) và khiến cho việc mang thai trở nên khó khăn hơn (vô sinh).

Bệnh Chlamydia. Trong khi mang thai người phụ nữ có thể truyền nhiễm tới đứa con của mình trong khi chúng đi qua đường sinh sản và âm đạo. Đứa trẻ có từ 20 — 50% mắc bệnh Chlamydia nêu người mẹ cũng bị mắc bệnh này. Nó có

Sự sinh trưởng của thai nhi trong bụng mẹ

Cơ thể mẹ và sự sinh trưởng của thai nhi trong bụng mẹ

1 Cơ thể mẹ và thai nhi tháng thứ nhất (có mang 1~4tuấn)

Phôi thai

Trứng được thụ tinh ở bụng vòi ống dẫn trứng, sự vận động của các cơ và lông mao trong ông dẫn trứng khiến trứng lh được thụ tinh di chuyển dần vế phía dạ con, 4-5 ngày sau khi thụ tinh, trứng thụ tinh đến được khoang dạ con, sau đó dừng lại ở khoang dạ con khoảng 3-4 ngày, lúc này, enzime phân giải protein do trứng thụ tinh tiết ra sẽ phá võ màng trong của dạ con, tạo thành một lỗ hở trên bể mặt của màng ối rồi dần dần cắm rễ sâu vào các lớp bên trong. Sau khi trứng thụ tinh xâm nhập màng trong của dạ con, lỗ hở trên màng trong của dạ con sẽ kín dần và bao bọc trứng đã được thụ tinh bên trong lốp màng trong đó, lúc này, trứng thụ tinh đã làm tổ, khoảng ngày thứ 7-8 từ sau khi xảy ra hiện tượng thụ tinh. Phôi tại thòi điểm này gọi là phôi nang. Sau khi làm tổ, phôi nang phát triển nhanh chóng, đến cuối tháng thứ nhất, phôi thai dài khoảng 5mm, là một thế nhỏ hình ôvan, phần bụng nối lên, trong đó có gốc rễ của quả tim. Tuy chưa có ất hình dạng của quả tim, nhưng có sức sống, đập nhẹ nhẹ trong cơ thể còn chưa phát triển hoàn thiện của thai nhi.

Cơ thể mẹ

Trong thời gian 2 tuần thụ thai, thông thường, người phụ nữ không có biến đôi gì rõ rệt. 4 dấu hiệu mang thai sớm trong kỳ thai nghén là: ©Chậm kinh. Nếu trước đó kinh [Ị, nguyệt rất đều đặn, trong thòi gian đó có quan hệ tình dục, đến ngày xuất hiện kinh nguyệt không thấy có kinh, lúc đó cần nghĩ đến khả năng là đã có thai rồi. ©Tiểu nhiều: sau khi có mang, bộ phận sinh dục xung huyết ép lên bàng quang làm cho sô lần tiểu tiện tăng lên nhiều. Thay đổi ở bầu A ngực: Cuối tháng mang thai thứ nhất, bầu ngực có cảm giác căng và hơi đau.® Nghén. Thường thấy buồn nôn, nôn mửa khong muốn ăn, mệt mỏi, thích ngủ…

* Viết nhật ký thai kỳ

Trong thời gian 10 tháng mang thai, khó mà tránh được những lúc cơ thể cảm thấy khó chịu không khỏe, bà mẹ mang thai và người nhà nên chú ý ghi chép lại những sự việc xảy ra trong thai kỳ, tăng cường sự hợp tác giữa bà mẹ mang thai và bác sỹ nhằm cung cấp căn cứ để bác sỹ chấn đoán bệnh. Nhật ký thai kỳ bao gồm các nội dung dưới đây đồng thời ghi những nội dung chủ yếu vào “Bảng ghi chép”

(1) Ngày của lần kinh nguyệt sau cùng: Con sô này có thể giúp bác sỹ tính được thòi gian sinh dự kiên, đồng thòi, cũng căn cứ vào con sô này đế phán đoán tình hình sinh trướng phát triển của thai nhi.

(2) Nghén: Ghi lại ngày bắt đầu có hiện tượng nghén và mức độ

(3) Ngày thai hoạt động lần đầu tiên: Đa phần thai nhi bắt đầu hoạt động sau 18-20 tuần mang thai. Ngày thai nhi hoạt động giúp tính toán thời gian sinh dự kiên và phán đoán tình hình phát triển của thai nhi.

(4) Chảy máu âm đạo: Trong thời gian mang thai, nếu phát hiện chảy máu âm đạo thì đa phần là dấu hiệu sảy thai, và còn nguyên nhân nữa là do thai nhi ở sai vị trí. Bà mẹ mang thai cần ghi chép lại màu sắc, lượng huyết và có tê bào của các tổ chức khác cùng thải ra ngoài hay không.

(5) Các bệnh mắc phải trong thòi gian mang thai: Nếu mắc bệnh trong thời gian mang thai, cần ghi chép lại thời gian mắc bệnh, tình trạng bệnh, phương pháp chẩn đoán và trị liệu. Ví dụ như bị sốt thì nên ghi lại nhiệt độ cơ thể.

(6) Sử dụng thuốc trong thòi gian mang thai: trong thai kỳ, cố gắng ít dùng thuốc. Nếu phải uống thuốc thì cần ghi

Tác dụng gây ra dị hình của thuốc chữa bệnh động kinh

phải uống thuốc đều đặn trong thời gian từ 3 đến 5 năm cho đến khi bệnh tình được khống chế, và không còn phát tác bệnh sau khi kiểm tra điện não đồ thấy bình thường, lám đán liều lượng thuốc uống cho đến khi dừng hắn uống thuốc (thời gian từ 6~14 tháng) sau khi quan sát bệnh trạng đa hoàn toàn thuyên giảm thì tính đến chuyện mang thai mới an toàn,

(2) Bệnh động kinh phát bệnh nặng hơn trong thòi gian mang thai. Khả năng mắc các chứng bệnh tống hợp trong thời gian mang thai ở những bà mẹ mang thai có bệnh đống kinh chưa kiểm soát được bệnh cao gấp 2 lần 80 với oốe bà mẹ mang thai bình thường.

(3) Tác dụng gây ra dị hình của thuốc chữa bệnh động kinh đối với thai nhi. Theo các thông tin đã được đua ra thi tý lộ gây dị hình ỏ thai nhi do thuốc chữa động kinh gây ra là 2% đến 3%, đặc biệt là những người sử dụng cả 3 loại thuốc thì tính chất nguy hiểm càng lốn. Dị hình thường thấy ỏ thai nhi là; hớ hàm, hở môi, bệnh tim bẩm sinh, nứt cột sống. Các loại thuốc khá nguy hiểm gây ra dị hình gổm có: Phenytoin Sodiura, Trimethadione, Valproic acid, carbamazepine là ít nhất.

(4)Thuốc chữa động kinh khiến trẻ mới sinh bị xuất huyết. Bà mẹ mang thai sau khi uống thuốc Phenytoin, Phenobarbital hoặc Trimethadione trong thời gian dài làm cho nồng độ của nhân tố làm đông máu nhò vào Vitamin K trong dịch huyết của thai nhi giảm thấp. Sau khí sinh ra, những đứa trẻ này cần được tiêm ngay vitamin K.

(5) Bệnh động kinh nguyên phát có khả năng di truyền. Tỷ lệ mắc bệnh động kinh ở người bình thường là 0.5%, tỷ lệ phát bệnh ở một sô’ gia tộc là 3%. Do vậy, nếu là người mắc bệnh động kinh mang tính nguyên phát (bô mẹ có tiển sử bệnh), những bà mẹ mang thai bị mác bệnh có độ tuổi trên 25 tuổi hoặc những người phát bệnh nhiều lần thì cần hết sức thận trọng đối vói vấn để sinh nở.

Mang thai ở những người bị bệnh động kinh

kháng nguyên âm tính, sau đó chuyển thành đương tính vìphát bệnh, nguyên nhân có thể là do thai nhi nhận dịch huyết lưu thông của sinh đạo hoặc có thể do thai nhi bị xước da.

Tóm lại, các bà mẹ mang thai bị nhiễm virut viêm gan trong thai nghén cần tích cực phòng tránh để tránh phát triển bệnh, cần nghỉ ngơi và chú ý dinh dưỡng nhiều hơn.

5. Những người mắc bệnh cường tuyến giáp trong mang thai

Bệnh cường tuyến giáp trạng thuộc loại bệnh trao đổi nội tiết bên trong cơ thể, thướng phát bệnh ở độ tuổi 20-40, Sau khi mác bệnh, do hệ thống trao đối chất bị rối loại, thường xuất hiện các hiện tượng như tím đập nhanh, nhiổu mổ hôi, tính tính nống nảy, dễ đói, muốn uống nước, án nhíểu cơm, cơ thể; xọp đi hẳn,,.ở nữ có thể thấy các hiện tượng như kinh nguyệt khống đểu đặn, kinh nguyệt ít hoặc hết kinh. Do trứng ít rụng nên khả năng sính đẻ cũng bị suy giảm, dù có đậu thai cung dễ bị nảy thai, đẻ non…ở nam, lượng tinh trùng giảm, liệt dương…nhin chung vẫn có thể mang thai. Nhưng do bản thản bệnh cường tuyến giáp trạng và những loại thuốc chữa bộnh này đều có chứa những thành phấn bất lợi cho thai nhi, vì thế trong thời gian mắc bệnh, cần tránh mang thai, Tốt nhất là sau khi bệnh tính đã ổn định, lượng thuốc phải uống ít đí thi mới nghĩ đến việc có thai. Khi đã có thai thì cần chú ý đến những vấn đề sau:

(ì) Trong khí chữa trị, cấm sử dụng cốc phương pháp chữa trị đốt phóng xạ, thuốc chữa bệnh tuyến giáp trạng dùng loại Propylthiouracil là thích hợp nhất. Nếu dùng đồng thời viên tuyến giáp trạng vói liều lượng thấp, có thể làm giảm thiểu khả năng phát sinh chứng đần độn và tuyến giáp trạng sưng to ở trẻ mới sinh. Do thuốc chữa bệnh tuyến giáv trạng có thể vào cơ thể thai nhi thông qua con đường nhau thai, dẫn đến tình trạng tuyến giáp trạng ở thai nhi bị sưng to hoặc chức năng tuyến giáp trạng bị suy giảm. Do vậy, cấm sử dụng thuôc chữa bệnh với liều lượng lớn.

(2) Cần hêt sức tránh chữa bệnh bằng phẫu thuật

(3) Chú ý dinh dưỡng và nghỉ ngơi, ăn nhiều các thực phẩm có độ đạm cao và các thực phẩm có vitamin như hoa quả.

(4) Cố gắng duy trì tâm lý tốt. Người nhà cũng cần tạo ra môi trường tôt để tránh những suy nghĩ tiêu cực gầy ra những hậu quả không tốt cho sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi.

(5) Sau khi sinh không nên cho trẻ bú mẹ. Vì người mẹ đang uống thuốc chữa cường tuyến giáp trạng, những thuốc này có thê xâm nhập vào cơ thể của trẻ sơ sinh thông qua sữa mẹ.

6. Mang thai ỏ những người bị bệnh động kinh

Những người bị bệnh động kinh khi mang thái sẽ có khả năng bệnh nặng thêm. Khi bệnh nặng thêm, nếu dùng thuốc sẽ có ảnh hưởng không tốt cho thai nhi.

(1) Mang thai có khả năng gây tái phát bệnh động kinh. Do mắc bệnh trước khi mang thai, tình hình bệnh vẫn chưa kiểm soát được, sau khi có thai, hệ thống trao đổi của cơ thể thay đổi, làm cho số lần phát tác của bệnh tảng lên. Ngoài ra, trạng thái buồn nôn, nôn mửa sau khi mang thai sẽ gây trở ngại cho việc hấp thu thuốc chữa động kinh, làm cho bệnh nặng thêm. Thêm vào đó, thuốc chữa động kinh cũng gây ra dị hình ở thai nhi. Do vậy, phụ nữ mắc bệnh động kinh nếu muốn sinh đẻ, tốt nhất,

Bà mẹ mang thai mắc bệnh viêm gan do virus

thai nhi thường thấy có dị hình đầu nhỏ, trí lực kém não bi canxi hóa, đục thủy tinh thế, dị hình ở tim, võng mạc di thường. Khi âm đạo của bà mẹ mang thai bị nhiễm virus nhóm II, thi khi được sinh ra từ sinh đạo của người mẹ, thai nhi cũng bị lây nhiễm và phát bệnh.

Sau khi bị lây nhiễm những nguyên thê bệnh nói trên, bà mẹ mang thai có lúc xuât hiện triệu chứng bệnh, có khi không có triệu chứng rõ rệt (đặc biệt là lây nhiễm nguyên thể hình cung và virus đại tê bào). Một sô người có những triệu chứng không đặc biệt giống như bị cảm như sôt nhẹ, mệt mỏi, đau đầu, do vậy, không dễ nhận ra được, đặc biệt là vào giai đoạn đầu của thai kỳ, thường nhầm tưởng đó là phản ứng thai nghén nên dễ bỏ qua và không kịp thời có biện pháp, để đến lúc đứa trẻ sinh ra có dị hình thì đã quá muộn. Những năm gần đây, các nhà khoa học đã nghiên cứu ra phương pháp kiểm tra huyết thanh, chỉ cần trích 2ml máu ở bà mẹ mang thai trong giai đoạn đầu là có thế kiểm tra xem có bị lây nhiễm nguyên thể của các bệnh này hay không. Phương pháp kiểm tra này vừa giúp tìm hiểu xem bà mẹ mang thai có bị nhiễm virus bệnh hay không, lại vừa có thế làm tăng hệ sô’ an toàn đối vối thai nhi. Nếu như bị mắc bệnh thì có thê nắm được thời điểm có lợi để kịp thòi có biện pháp.

3. Khám kiểm tra bằng tia X có hại cho bà mẹ mang thai

Tia X là một tia phóng xạ, có những nguy hại nhất định đối với cơ thể con người, đặc biệt là đốì với bà mẹ mang thai, trong 3 tháng đầu của thai kỳ, là giai đoạn hình thành các tổ chức của phôi thai, chiếu xạ tia X có tác dụng gây ra những bất thường rất mạnh, có thê dẫn đến tỷ lệ sảy thai chết thai cao. ớ giai đoạn giữa của thai kỳ, xương, thần kinh, tuyến sinh dục của thai nhi tiếp tục phát triển, do vậy, cũng nên tránh khám kiểm tra bằng tia X.

(1) Cố gắng khám kiểm tra vào giai đoạn cuối của thai kỳ; lúc này các cơ quan trong cơ thể thai nhi đều đã phát triển chành thục, chụp phim bằng tia X ở liều lượng nhỏ sẽ không gậy ra biến đổi ỏ thai nhi. Đặc biệt là khi dùng để chẩn đoán sự phát triển xương của thai nhi có gì bất thường không, lúc này, xương của thai nhi đã phát triển thành thục và dễ nhận biết.

(2) Khi cần dùng tia X để khám kiểm tra, cần tránh phần bụne* chỉ chiếu cục bộ những chỗ cần khám.

(3) Khi nhất thiết phải sử dụng tia X để khám kiểm tra, thì tốt nhất nên chụp phim bằng tia X bởi chụp phim có liều lượng nhỏ hơn rất nhiều so với soi X quang.

(4) Những bà mẹ mang thai phải làm kiểm tra bằng tia X vối liều lượng lổn trong giai đoạn đầu của thai kỳ, đặc bịệt là phần bụng thì cần đề nghi bác sỹ tiến hành khám chẩn đoán trước khi sinh, kiểm tra xem thai nhi có thể bị dị hình hay không.

4. Bà mẹ mang thai mắc bệnh viêm gan do virus thì phải làm thê nào?

Viêm gan do virus thường thấy gồm 3 loại A, B và c. Con dường lây bệnh chủ yếu là do ăn uốhg, chích truyền máu và các hình thức tiếp xúc thân mật khác. Viêm gan A bệnh đến nhanh, dấu hiệu rõ rệt, dễ được phát hiện. Viêm gan B thường là người bệnh bị mắc phải mà không biết.

Tỷ lệ dị hình ở trẻ sơ sinh do mắc bệnh trong giai đoạn đầu của thai kỳ không tăng lên rõ rệt nhưng khi mắc bệnh vào giai đoạn sau của thai kỳ thì tỷ lệ sảy thai, tử thai, chết lưu, tử vong ở trẻ sơ sinh tăng rõ rệt. Những người có mang trong người kháng nguyên B không có dấu hiệu bệnh, kháng nguyên ỏ trẻ mới sinh dương tính chiếm 5%-7% có thể truyền qua nhau thai. Nếu mắc bệnh vào giai đoạn sau của thai kỳ thì tỷ lệ dương tính kháng nguyên bề mặt viêm gan ở thai nhi và trẻ mới sinh là 20%-30%, một số trẻ lúc mới sinh ra là

Những dị hình do nhiễm virus bệnh rộp da bẩm sinh

và khắc phục được. Trước hết, cần trang bị một vài nhện thức vể cấc nhân tô’ này. Điều này có mối quan hộ rất qúaii trọng đối với việc gây ra những bất thường ở sình vật, tức là lây nhiễm virus và dị hình ở thai nhi.

Virus mề đay, trùng nguyên thể hình cung, virus đại tê’ bào (Cytomegalovirus 1 CMV), virus bệnh rộp da không đau (Herpes Simplex Virus I HSV) hiện đã được thế giới công nhận là những sinh vật bệnh nguyên thể gây ra dị hình. Nói cách khác, người phụ nữ trong quá trình mang thai, đặc biệt trong 3 tháng đầu mang thai, khi bị lây nhiễm nguyên thế của những bệnh này thì khả năng gây ra dị hình ở thai nhi sẽ cao hơn rất nhiều so vối những bà mẹ mang thai không bị lây bệnh. Vậy thì, lây nhiễm virus mê đay, trùng nguyên thê hình cung, virus đại tê bào, virus bệnh rộp da cụ thê là thê nào? trong quá trình mang thai, bằng các con đường khác nhau (như niêm mạc đưòng hô hấp, khoang miệng, đường sinh dục hoặc bị xước da) xâm nhập vào máu của bà mẹ mang thai, gây ra những chứng bệnh virus và thông qua dịch huyết xâm nhập đến nhau thai và thai nhi, gây lây nhiễm ở tử cung, sau cùng là ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi, dẫn đến dị hình ở thai nhi.

Lây nhiễm virus mề đay: một bác sỷ nhãn khoa người Australia lần đầu tiên đã đưa ra thông tin việc bà mẹ mang thai bị lây virus mề đay trong giai đoạn đầu của kỳ mang thai sẽ dẫn đến dị hình ở thai nhi, gọi là Triệu chứng tổng hợp mề đay bẩm sinh. Bao gồm: huyết quản dị thường (như động mạch phổi hẹp, buồng phổi bị tổn thương), bệnh điếc bẩm sinh, đục thủy tinh thể bẩm sinh, dị hình đầu nhỏ, trí lực kém và những căn bệnh phát bệnh muộn hơn sau khi sinh, như bệnh tiểu đường hay hệ thống thần kinh trung khu dị thường.

Lây nguyên thể hình cung: Thể hình cung là một loại nguyên trùng, thường có trong phần mèo. Cùng với sự hiện đai hóa trong cốc phương pháp chân đoán, người ta đã nhộn thấy là lâv nhiễm nguyên thê hình cung không phàĩ là ít thấy. Điều tra ở các nước cho thấy tỷ lệ phát bệnh cùa bệnh thề hình cung ở bà mẹ mang thai là 2 /a ,

Thông thường, trong giai đoạn đầu mang thai nếu bà mẹ mang thai bị lây bệnh sẽ gây ra sảv thai và chét thai; lây bệnh vào giai đoạn sau của kỳ mang thai thì thai nhi .bí nhiễm bệnh toàn thân, chủ yêu là viêm màng võng mạc, não tích nước, não bị canxi hóa. Để phòng tránh mác bệnh này, bà mẹ mang thai không nên ăn các loại thịt sông hoặc chưa nấu chúi; khi thái thịt sống không được để tay tiêp xúc với mắt, miệng, sau khi thái thịt xong phải rửa tay sạch sẽ; không chơi với mèo và tiếp xúc với các động vật nhỏ.

Lây nhiễm virus đại tế bào: nhiễm bệnh virus đại té bào bẩm sinh trong dạ con thường gây ra đẻ non, sảy thai hoậc chết thai trong dạ con, trẻ sau khi sinh ra mắc các bệnh vàng da, gan sưng to, ban xuất huyết, viêm phôi, và thường di kèm với hệ thần kinh trung khu bị tôn thương. DỊ hình đẩu nhỏ, cử động khó khăn, trí lực thấp là những di chứng thường gặp. Có lúc, thai nhi bị lày bệnh virus đại tế bào bẩm sinh thường không có biểu hiện dị thường sau khi sinh ra, nhưng một vài tháng, hoặc vài năm sau khi sinh ra, hệ thống thần kinh trung khu mới có dấu hiệu bị tổn thương, như tó lực kém, tai điếc…

Virus rộp da: Có hai nhóm huyết thanh, nhóm I (HSV-1) và nhóm II (HSV-2), nhóm I chủ yếu gây ra rộp da ỏ bộ phận sinh dục và phần da dưới eo, thường lây bệnh do quan hệ tình dục, các nưốc xếp bệnh này vào những bệnh lây qua đường tình dục. Loại I thường ít lây cho thai nhi. Nhóm II sẽ lây nhiễm cho thai nhi.

Những dị hình do nhiễm virus bệnh rộp da bẩm sinh ở

Những người bị bệnh thận có thể có thai được không?

(1) Thuôc nhuộm tóc: Theo các thông tin được đưa ra thuoc nhuộm tóc có ảnh hưởng đến da và thai nhi, có kha năng gây ra các bệnh vể da, tuyến sữa và dị hình ỏ thai nhi..Do vậy, bà mẹ mang thai và những người phụ nữ có kinh nguyệt không đều đặn tốt nhất là không nên sử dụng thuỗc nhuộm tóc.

(2) Dầu là tóc: tốt nhất là không nên sử dụng. Do dầu là tóc là loại chê phẩm hóa học, có thể xâm nhập vào máu thông qua da đầu, và ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi. Đồng thời, trong vòng 6 tháng sau khi sinh, sản phụ cũng không nên là tóc, vì trong thời gian nàv, tóc yêu và giòn, rất dễ bị rụng, dầu là tóc sẽ làm tăng khả năng rụng tóc.

(3) Son môi: là loại hỗn hợp giữa các loại dầu và màu làm thành; thông thường không có những nguy hại rõ rệt đôi với cơ thê con người, nhưng trong thời gian mang thai thì tôt nhất là không nên sử dụng vì chất lanolin có trong son môi có thể hấp phụ các loại nguyên tô vi lượng kim loại nặng có trong không khí và có hại đôi với cơ thế con người, nó còn có thê hấp phụ các vi sinh vật như khuẩn hình que đại tràng và xâm nhập vào cơ thê của thai nhi, ngoài ra son môi còn có tác dụng thẩm thấu nhất định. Bà mẹ mang thai nếu thường xuyên dùng son môi thì một số vật chất có hại.sẽ dễ dàng xâm nhập vào cơ thể, ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi. Do vậy, trong thời gian mang thai, tốt nhất là không nên dùng son môi.

V, Chăm sóc bà mẹ mang thai trong những trường hợp đặc biệt

1 Những người bị bệnh thận có thể có thai được không?

Phụ nữ mắc bệnh thận liệu có thể có thai? Vấn đề này được quyết định bởi mức độ bệnh và mức độ nặng nhẹ của 4 triệu chứng bệnh lâm sàng. Nếu lâm sàng chỉ biêu hiện ra là tiểu đạm ở mức độ nhẹ, đôi khi xuất hiện hồng cầu, không có dấu hiệu phù, không cao huyết áp, chức năng thận không có dấu hiệu bất thường, thì thông thường sẽ không ảnh hưởng đến thai nghén và sinh nở.

Ngược lại, nêu người bệnh có dấu hiệu huyết áp tăng cao rõ rệt hoặc chức năng thận không tốt, thêm vào đó là hiện tượng tiểu đạm, phù thũng thì không nên mang thai. Chủ yếu là căn cứ vào chức năng của thận và tình hình huyết áp đê xác định.

Cùng với sự tiên triển của khoa học, việc áp dụng phương pháp chữa trị “cây ghép thận” đôi vối bệnh niệu độc mà trước đây cho là những căn bệnh không chữa được (chức năng thận suy giảm) cũng đã có thế chữa được tận gốc. Vậy thì, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ sau khi được cấy ghép thận có thề có thai được không? Các chuyên gia về y học hiện đại đã đưa ra một vài kiến nghị đê tham khảo như sau:

(1) Những người có tình hình sức khỏe tốt ít nhất là 2 năm sau khi cấy ghép thận.

(2) Những người có điều kiện thân thể phù hợp với điều kiện sản khoa

(3) Những ngưòi về mặt lâm sàng chức năng thận không có hiện tượng tiểu đạm, cao huyêt áp…

(4) Không có những dấu hiệu bệnh phản ứng bất thường, nếu không sẽ gây ra những hậu quả không tốt cho bà mẹ mang thai và thai nhi.

2. Những nhân tô gây ra dị hình trong kỳ thai nghén

Các nhân tố di truyền, vật lý, sinh vật và hóa học đều có thể gây ra những dị thường bẩm sinh ở thai nhi; trong các nhân tố trên thì 3 nhân tố đứng đằng sau có thể phòng tránh

Ảnh hưởng của hóa mỹ phẩm đối với thai nhi

sống được thì tỷ lệ phát bệnh như tim bẩm sinh, nứt cột tủy sống hàm lành và vóc dáng thấp lùn. trí lực thấp thường cao hơn rất nhiều so với các bà mẹ không hút thuốc.

Do vậy những nguy hại đối với thai nhi đo người bố hút thuốc cũng không thể xem nhẹ. Hít khói thuốc vào cũng làm ảnh hưởng đến sự phát triển của tinh trùng ở bản thân người nam giới xuất hiện tinh trùng có phần hình dị thường, sức sống kém, sỗ lượng ít…trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh con của bản thân, còn khiến cho người vợ hút thuốc bị động, gián tiếp ảnh hưỏng đến người vợ và thai nhi. Tổng kết lạì, vì sức khỏe của gia đình và thế hệ con cái tiếp theo, tốt nhất là không hút thuốc lá.

13. Ánh hưởng của vô tuyến đối với thai nhi

Chúng ta đã biết là tia X rất có hại cho thai nhi. Nhưng tiếp xúc với vô tuyến, đầu video, máv vi tính…trong thời gian dài cũng có ảnh hưởng rât lớn đối với thai nhi.

Y học hiện đại cho rằng, tiếp xúc với tia X ở mức độ thấp và dòng điện cao áp ở ống phát xạ trong thời gian dài sẽ gây ra những biến đổi về mặt hóa học sinh vật trong cơ thê người mẹ, tác động có hại đến nhiễm sắc thề trong nhân tê bào, dễ gây ra sảy thai, đẻ non hoặc bất bình thường ở hệ thông phát triển thần kinh trung khu, xương, mắt ỏ thai nhi. Đặc biệt là tia phóng xạ của vô tuyến màu cao gấp khoảng 20 lần so với vô tuyến đen trắng. Tại đây, chúng tôi xin được khuyên cáo vôi các bà mẹ mang thai, trong vòng 6 tuần đầu tiên của thai kỹ, cần chú ý đề phòng những nguy hại của tia phóng xạ khi ngồi trước màn hình TV, mỗi ngày nên kiêm soát thời gian và số lượng tiếp xúc với màn hình.

14. Ảnh hưởng của máy vi tính đối với thai nhi

Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, mức độ phổ cập của máy vi tính cũng ngày càng được nâng cao. Ở văn phòng làm việc hay ở nhà, đều có thể bắt gặp máy vi tính hoặc các sản phẩm điện tử khác. Có thể dễ thấv được những nguy hại của các sản phẩm của khoa học kỹ thuật cao này đôì với bà mẹ mang thai và thai nhi trong sinh hoạt thường nhật.

Tại Nhật Bản, “Tổ chức sức khỏe và làm việc có liên quan đến máy vi tính” đã làm một điều tra chuyên ngành đối với 250 người làm việc có dùng máy tính, mang thai trong thời gian có thao tác vói máy tính hàng ngày, có 18 ngưòi bị huyết áp cao trong thời gian thai nghén, 35 người bị sảy thai và đẻ non. Nguyên nhân có thể là do các ion dương được giải phóng trong màn hình của máy tính đã ảnh hưởng đến quá trình trao đôi sinh lý của người sử dụng máy tính, làm cho sức đê kháng miễn dịch giảm. Những bà mẹ mang thai trong môi trường thiếu ion âm trong thòi gian dài sẽ xuất hiện một sô” triệu chứng bệnh như đau đầu, ngột ngạt, ăn uống kém, có khả năng dẫn đến sảy thai và dị hình ở thai nhi.

Vì sức khỏe của bà mẹ mang thai và thai nhi, có thể mặc các bộ quần áo bảo hộ chống phát xạ sóng từ, chú ý lưu thông không khí trong phòng làm việc, tốt nhất là cứ khoảng 1 tiếng thì nên ra ngoài nghỉ ngơi khoảng 15 phút, về mặt ăn uống, nên ăn nhiều các loại thực phẩm có Protein, vitamin và Lecithos để nâng cao khả năng chống bức xạ sóng từ của cơ thể. Đối vối những phụ nữ chuẩn bị làm mẹ thì tốt hơn là nên tạm tránh máy tính trong một thòi gian.

15. Ảnh hưởng của hóa mỹ phẩm đối với thai nhi

Trang điểm ở nữ giới đã trỏ thành một tiêu chí của văn minh và thời thượng trong xã hội hiện đại. Nhưng đối vối bà mẹ mang thai, khi sử dụng các đồ hóa trang cần chú ý hơn, tốt nhất là không nên sử dụng.

Nụ hôn và sảy thai

Vấn đề quan trọng vẫn là phòng tránh bệnh, người phu nữ trong thời gian mang thai hoặc trưóc đó khi phát hiện ra bệnh này thì cần sốm thực hiện các biện pháp chữa trị đậc biệt trong giai đoạn đầu, để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe của thai nhi. Cũng cần tránh quan hệ tình dục bừa bãi. Trong sinh hoạt hàng ngày, cần tập thói quen giữ vệ sinh sạch sẽ âm hộ, cũng có thể áp dụng các biện pháp phòng tránh vệ sinh thông thường.

10. Bà mẹ mang thai khi tiêm phòng cẩn có lựa chọn

Khi phải tiêm phòng tập thể, liệu bà mẹ mang thai có phải tiêm phòng không? Khi gặp tình huông này, thường thì khó mà tránh khỏi có những lo âu suy nghĩ. Tuy tác dụng của việc tiêm phòng là giúp con người có sức đê’ kháng đôi vối loại bệnh truyền nhiễm nào đó, giúp phòng tránh mắc bệnh, nhưng thông thưòng, nếu không tiêm thì tốt hơn. Mặc dù vậy, có một số mũi tiêm phòng là bắt buộc. Chang hạn như, bắt buộc phải đi tiêm phòng vaccine phòng bệnh dại sau khi bị chó dại cắn, nếu không, khả năng còn sống sót sau khi bị phát bệnh này là rất ít. Hoặc như, sau khi bà mẹ mang thai có tiếp xúc vổi người bị bệnh bạch hầu, thì cũng phải đi tiêm vaccine bạch hầu cho an toàn. Ngoài ra, cũng cần phải tiêm cả vaccine phòng uốn ván. Tiêm phòng uốn ván cho bà mẹ mang thai là phương pháp hữu hiệu nhất do Tổ chức Y tê thế giới giới thiệu để phòng bệnh uốn ván cho trẻ mới sinh. Bà mẹ mang thai cần chú ý tiêm phòng bệnh này vào khoảng 1 tháng trưốc khi sinh là phù hợp. Các loại vaccine khác tốt nhất là tránh không tiêm lại lần hai trong thòi gian mang thai. Khi phải tiêm phòng, bà mẹ mang thai cần xin ý kiến tư vấn của bác sỹ tại Trạm tiêm phòng dịch trưốc rồi mới quyết định là có tiêm phòng hay không.

11. Nụ hôn và sảy thai

Hôn là một loại kích thích đối với tâm lý của bà mẹ mang thai, có thể làm cho tử cung của người phụ nữ co thắt mạnh trong thời gian mang thai, đặc biệt là trong 3 tháng đầu hoặc 8 tháng sau của thai kỳ; hôn dễ dẫn đến sảy thai hoặc đẻ non. Vì thế, trong thời gian này cần tránh những nụ hôn.

12. Hút thuốc lá gây nguy hại lớn cho thai nhi

Mọi ngưòi đều biết rằng, hút thuôc lá và hút thuốc lá bị động đểu có nguy hại rất lốn đối vói cơ thể. Những nguy hại đối vói bà mẹ mang thai và thai nhi càng không thể nói hết được. Trong khói thuốc lá, có những chất gây ra dị hình ở thai nhi, như nicotine, hắc ín, chất bị bức xạ và chất bị đốt cháy, những chất trao đổi này có thể làm thay đổi các chất thúc đẩy tạo sữa và xêton thai nghén được tiết ra, có thê phá hoại quá trình làm tổ của tê bào tinh noãn. Nicotine còn có thê làm cho tử cung co lại, gây ra khả năng sảy thai tự phát. Ngoài ra, hàm lượng cacbon oxit trong khói thuôc rất cao, sau khi hít phải, hàm lượng cacbon trong máu tăng lên, giảm thiểu khả năng giữ ôxy và tác dụng giải phóng ôxy của tê bào hồng cầu, làm cho phần gốc màng bọc của nhau thai bị hoại tử, tầng tế bào sinh trưởng, máu lưu thông trong huyết quản mao tê của thai nhi giảm bớt, làm cho nhu cầu về oxy của thai nhi bị thiếu hụt, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của thai nhi, có hại đến hình thái và chức năng mang tính bẩm sinh của tim.

Nếu bản thân bà mẹ mang thai hút thuốc thì đứa trẻ khi sinh ra sẽ gặp khó khăn về đưòng hô hấp, phát triển không bình thường, thậm chí là tử vong. Có ngưòi đã thốhg kê độì với những bà mẹ mang thai hút dưới 20 điếu thuốíc mỗi ngày thì tỷ lệ tử vong ỏ thai nhi là 20%, hút trên 20 điếu thuốíc lá mỗi ngày thì tỷ lệ tử vong ở thai nhi là 35%. Những đứa trẻ

Ảnh hưởng của bệnh lây qua đường tình dục đối với thai nhi

hưởng đến sự’ phát triển đại não ở thai nhi, sau khi sinh ra, đứa trẻ sẽ có trí lực thấp kém. Nhiệt độ của thảm nhiệt điện càng cao thì nguy hại cho thai nhi sẽ càng lớn.

Ngoài ra, không những ảnh hưởng đến bà mẹ mang thai, thảm nhiệt điện còn ảnh hưỏng đến sự hình thành tinh trùng ở nam giói, nó khiến cho tinh trùng bị biến dị hoặc lượng hình thành bị giảm thấp, và đây cũng chính là một trong những nguyên nhân không thụ thai. Vì thế, những đôi vợ chồng mối cưới cần hết sức chú ý vấn đề này.

9. Ảnh hưởng của bệnh lây qua đường tình dục đối với thai nhi

Bệnh lây qua đường tình dục thường thấy do lây nhiễm y nguyên thê là bệnh “mắt hột”, còn gọi là y nguyên thề mắt hột, là một loại của y nguyên thể. Y nguyên thể là loại vi sinh vật có kích thước lớn hơn vi khuẩn và nhỏ hơn virus, ngoài việc gây mắc bệnh mắt hột ra, nó còn có thể gây bệnh ở đường tình dục và niệu đạo thông qua tiếp xúc quan hệ tình dục. Vì thế, lây nhiễm loại này thuộc về những bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.

Bà mẹ mang thai nếu mắc bệnh lây nhiễm đường tình dục niệu đạo do y nguyên thế, đặc biệt là viêm cổ tử cung, sẽ làm cho thai nhi hoặc đứa trẻ mói sinh ra cũng bị mắc bệnh dẫn đến đẻ non, tử vong, đột tử ở trẻ sơ sinh, khí quản nhánh phát triển không tốt, phổi dồn khí cục bộ, viêm tai giữa, viêm kết mạc, viêm phổi…Trong đó, thường thấy nhất là viêm kết mạc và viêm phôi.

Sau khi bị lây y nguyên thể thì phải làm thê nào? Bất kể là sản phụ hay đứa trẻ mới sinh ra, khi đã xác định rõ là bị lây nhiễm y nguyên thể thì cần sớm chữa trị. Thường dùng thuốc Erythromycin, Amoxycilin… Thời gian chữa trị trong vòng 1 tuần.