Nước ối của nhau thai quá nhiều và quá ít

gọi là co giật trước khi sinh, co giật trong khi sinh, và co giật sau khi sình.

Khi bị co giật, con ngươi của người bệnh đứng im, hướng về một phía, đồng tử bị giãn mãnh, miệng và mặt bị co giật. Tiếp theo, tứ chi, xương sống bị căng cứng. Sau mưòi mấy giây, mí mắt và miệng cửng đò, không đóng và mở được, cơ bắp thịt toàn thân bị co giật mạnh. Miệng sùi bọt trắng, lưỡi thường là bị răng cắn vào, mắt trdn ngược, hô hấp cấp, sắc mặt tím tái. Sau 1-2 phút, người bệnh hít sâu một hơi, co giật dần dần dừng lại, đại tiểu tiện không kiểm soát được. Người bị nhẹ thì có thể tỉnh lại sau khi hôn mê vài phút, nêu chữa trị tốt thì sẽ không bị tái phát trở lại, người bị nặng thì sẽ bị tái phát trở lại nhiều lần.

Quá trình phát bệnh có giật có thể đi kèm theo rất nhiều triệu chứng, đồng thời dẫn đến đẻ non và bong nhau thai sớm, thai nhi chết trong tử cung. Do vậy, cần tăng cường phòng tránh.

Khi gặp chứng co giật có dấu hiệu báo trước, huyết áp ngưòi bệnh thường vượt quá 21.2/13.3 kpa (160/100mm Hg), giai đoạn này rất ngắn, nếu không xử lý thì sẽ chuyển sang co giật rất nhanh. Vì thế, người có chứng co giật có dấu hiệu báo trưóc này nên nhập viện để điều trị hoặc nghỉ ngơi cả ‘ngày. Mồi trường nghỉ ngơi cần yên tĩnh, tránh tiếng ồn, để người bệnh có thể ngủ được, yên tâm tĩnh dưỡng. Phải hạ thấp huyết áp, tiêu trừ phù nước, nâng cao tỷ lệ sống của thai nhi, tránh nhau thai bị bong sớm. Nếu bị co giật cần nhanh chóng cấp cứu. Trưốc tiên đưa người bệnh vào phòng tôi yên tĩnh, tránh tất cả các kích thích không tốt như ầm thanh, ánh sáng…Đế phần đầu của ngưòi bệnh nghiêng sang một bên để nước dãi chảy ra, dùng miêng chặn lưỡi hoặc đũa có quấn vải đặt kẹp vào giữa hàm răng để tránh bị cắn vào lưỡi khi co giật. Nếu có điều kiện, nhanh chóng cho hít ôxy. Đồng thời mời bác sỹ cứu chữa kịp thời.

46. Nước ối quá nhiều và quá ít

Nước ối được tiết ra từ màng ối của nhau thai. Trong thời gian đầu mang thai lượng nước ối rất ít, là chất lỏng, trong; cùng vối thòi gian msựig thai, nước ôĩ cũng nhiều lên theo, bình thường là 1000~1200ml.

Thai nhi lớn lên trong nưốc ối. Nưốc ối giúp duy trì nhiệt độ ổn định bao bọc xung quanh thai nhi, giúp thai nhi nổi lên như cá, tánh cho thai nhi bị dính vào thành tử cung, đồng thòi, còn có thể giúp cho thai nhi tránh được những va đập và áp lực từ bên ngoài. Khi sinh nỏ, nưóc ối giúp cổ tử cung rộng ra. Trong nưốc ối có rất nhiều chất thải ra của thai nhi làm cho nưốc ối dần dần bị đục lại.

Khi lượng nước ối lên đến 2000ml thì nưốc ối quá nhiều. Nưóc ối quá nhiều thưòng xuất hiện vào tháng mang thai thứ 7~10, xuất hiện càng sớm thì càng nghiêm trọng. Dị hình bẩm sinh ở thai nhi thường đi kèm vối nước ối quá nhiều, chiếm khoảng 40% tổng số ngưòi có nước ối quá nhiều; trường hợp cao huyết áp trong thời gian mang thai, mang thai kèm bệnh tiểu đường và sinh đôi thường có quá nhiều nước ối.

Nước ối quá nhiều đều có thể mang thại những ảnh hưồng không tốt đối với cơ thể mẹ và thai nhi. Do tử cung lốn lên quá mức, khiến cơ màng bị nâng cao, ép lên khoang ngực, người mẹ cảm thấy thỏ gấp, khó nằm thẳng, nhịp tim tăng nhanh, tiêu hóa không tốt, nôn mửa, táo bón…áp bụng tăng cao khiến tĩnh mạch phần đùi căng lên, chi dưới và bộ phận sinh dục ngoài bị phù nưỏe. Khi sinh nỏ, tử cung khó co trỏ lại và dẫn đến chảy máu sau khi sinh. Nếu nước ôi chảy ra nhanh quá, khiến cho áp lực bên trong khoang tử cung vốn bị

Co giật có dấu hiệu trước từ chứng bệnh cao huyết trong thời gian thai nghén

dẫn đến co rút bụng chân chủ yếu là do thiếu Canxi. Sau khi có triệu chứng này cần chứ ý ăn các thực phẩm giàu canxi, như sữa bò, đậu, cá, rong biến, tôm khô…Đồng thời còn cần , chú ý tăng cường các hoạt động ngoài trời, tắm nắng thường xuyên, thúc đẩy việc hình thành vitamin D, giúp hấp thu Canxi. Nếu thiếu canxi nặng thì cần uống viên bổ sung canxi với sự hướng dẫn của bác sỹ, như Calcium Gluconate, Garhomte, Calcium Lactate. Trong sinh hoạt hàng ngày, phụ nữ mang thai cần chú ý không đi giày cao gót, lựa chọn loại giày vải đế bằng rộng thoải mái. Khi đi ngủ, chân không nên duỗi quá thẳng, nằm co là tốt nhất. Khi nằm nghiêng, cố thể dùng một chiếc gối mềm kẹp giữa hai đầu gối, khi nằm thẳng thì kê một chiếc gối mềm ở dưới đầu gôi, khi mỏi có thể nâng cao chân lên để máu lưu thông thuận lợi.

Khi thấy bắp chân co rút thì không nên sợ hãi, nếu là khi ngú váo ban đêm thì có thể dùng tư thế nằm nghiêng, dùng tuy kéo ngón chân, cố gắng nhấc phần bắp chân lên, một lần không được thì làm thêm lần nữa, thưòng thì thuyên giảm rất nhanh. Nếu bị co rút bắp chân khi đang đứng thì duỗi thẳng cẳng chân ra, hoạt động bàn chân cũng có hiệu quả rất nhanh. Sau khi bị co rút, có thể uống viên canxi và viêm dầu gan cá.

44, Chăm sóc người bị vỉêm bể thận trong thời gian mang thai

Viêm bể thận là chứng bệnh về hệ thông tiết niệu thường gặp nhất trong thời kỳ mang thai ỏ phụ nữ. Tỷ lệ phát bệnh khoảng 1~ 6%, thường xuất hiện vào giai đoạn sau của thai kỳ.

Trong thời gian mang thai, cùng vối những thay đổi về hình thái và cơ năng của bộ phận sinh dục nữ, ông dẫn niệu cũng có những thay đổi, tố’ chúc bị giãn, phần bụng ống bành ống bành to, lực xoắn giảm thấp, do vậy, thải niệu bị chậm lại. Nước tiểu bị giữ lại trong ống dẫn niệu và bể thận trỏ thành môi trường tốt cho vi khuẩn phát triển. Đồng thời vói nó, sự vận động của ruột cũng chậm lại gây táo bón. Vi khuẩn trong đại tràng dễ dàng xâm nhập bế thận và ống dẫn niệu qua con đường từ ruột qua lim phô gây ra lây nhiễm. Những vi khuẩn gây bệnh khác như vi khuẩn thể đào dẹt, răng…cũng có thể đến thận thông qua tuần hoàn máu. Viêm bể thận trong thòi gian mang thai thường thấy ỏ thận phải.

Sau khi bể thận bị viêm, những ngưoiừ trong thòi kỳ cấp tính có thể có các triệu chứng như sốt cao, đau ỏ vùng thắt lưng, niệu cấp, niệu nhiều lần. Nếu xảy ra trong giai đoạn đầu mang thai có thể dẫn đến sảy thai, vào giai đoạn cuối thì dẫn đến đẻ non. Bệnh này có thể phát tác lặp đi lặp lại nhiều lần, và còn có thể dẫn đến cao huyết áp.

Người phụ nữ mang thai cần chú ý phòng tránh viêm bể thận, trong thời gian mang thai nên uống nhiều nước ỏ mức độ thích hợp, để đại tiện bình thường, tránh táo bón; năng luyện tập thể dục, tăng cưòng thể chất, nếu thấy có triệu chứng niệu cấp, tiểu nhiều thì cần phải chữa trị triệt để.

45. Thế nào là co giật có dấu hiệu trước, thế nào là co giật?

Co giật có dấu hiệu trước thường phát triển từ chứng bệnh cao huyết trong thời gian thai nghén, ngoài huyết áp cao, phù thũng, tiểu đạm ra, còn thấy đau đầu, chóng mặt, thị lực mờ, khó thỏ, buồn nôn…nếu không chữa trị sẽ chuyển sang giai đoạn co giật rất nhanh.

Nếu không kịp thời kiểm soát chứng co giật có dấu hiệu báo trưóc, người bệnh có thể bị co rút đột ngột hoặc hôn mê, gọi là co giật. Sau khi bị co giật, tính mạng của người mẹ sẽ bị đe dọa, số lần co giật càng nhiều thì những lần tiếp theo sẽ càng nghiêm trọng hơn. Co giật có thể uất hiện trong thời kỳ mang thai, trong khi sinh nở hoặc sau khi sinh, lần lượt được

Bụng chân bị co rút sau 5 tháng mang thai

thì bác sỹ có thể thực hiện thuật xoay ngoài. Phẫu thuật này có thể chỉnh lại được khoảng 2/3 vị trí của thai nhi, nhưng cá biệt có những trường hợp không tính đến như cuống tốn quấn quanh cổ, bong nhau thai…vì thế, khi sử dụng phương pháp này, các bác sỹ cũng khá thận trọng.

Có phải tất cả các trường hợp sinh nở thai ngược đều cần phải mổ đẻ không? Việc này cần căn cứ vào tình hỉnh cụ thế đế xác định. Chẳng hạn như vị trí chân, do khả năng cuống rốn thoát thăng ra ngoài là khá lớn nên tốt nhất là mổ đẻ; khi thai ngược phần mông đơn thuần, nhưng phần xương chậu rộng, kích thưốc thai nhi vừa phải, quá trình sinh nở diễn ra thuận lợi thì tôt hơn là nên để sinh thưòng.

42. Trẻ 8 tháng tuổi thai có thể sống được không?

Theo khoa học phụ sản, thai nhi được sinh trưởng và phát triển trong tử cung, sau 280 ngày, tức là 40 tuần thành thục và được sinh ra. Nhưng do một nguyên nhân nào đó, thai nhi có thể được sinh ra vào một tuần bất kỳ nào đó trong thai kỷ. Chúng ta quen gọi những trẻ sơ sinh khi sinh ra có trọng lượng thấp hơn 2.5kg, và thòi gian mang thai chưa đủ 37 tuần là đẻ non. Nhưng trong sản khoa, thường thấy những trẻ sơ sinh được sinh ra khi mới mang thai 7, 8 tháng, trọng lượng cơ thể không quá nhẹ, khả năng sống khá tốt, biết khóc, biết hút nuốt sữa. Cũng có những trẻ sơ sinh đã đủ tháng nhưng trọng lượng cơ thể khi được sinh ra chỉ có hơn 2.5kg, thậm chí còn chưa đến. Do ảnh hưỏng của các nhân tố như di truyền, môi trường sống, điều kiện dinh dưdng…những người cùng tuổi cũng không hoàn toàn giống nhau về chiều cao, cân nặng và thể chất; trẻ sơ sinh được sinh ra trong cùng một tuần thai của những người phụ nữ khác nhau cũng có những khác biệt khá lớn về chiều dài cơ thể, về trọng lượng cơ thể và khả năng sống. Theo thống kê, trẻ sơ sinh do những người phụ nữ bình thường sinh ra vào cùng tuần thai cũng có lớn có nhó. Chẳng hạn, trẻ sơ sinh được sính ra từ tuần thai thứ 32 có trọng lượng nhẹ nhất là 1200gr. nặng nhất là tới 2200g. Trẻ sơ sinh được sinh ra ở tuần thai thứ 36 có trọng lượng nhẹ nhất là 2300g, nặng là 3200g; trọng lượng của trẻ sơ sinh đủ tháng cũng dao động lên xuồng một con số nhất định, thuộc phạm vi bình thường. Vì vậy. không nên đòi hỏi con của mình phải y hệt như con của người khác,

Ngoài ra, tốc độ sinh trưởng và phát triển của thai nhi trong tử cung là giai đoạn phát triển nhanh nhất đầu tiên của cơ thể con nguời. Khi mang thai 3 tháng, cơ thể dài từ 7 đến 9cm, trọng lượng khoảng 20g, tứ chi đã chia rõ rệt và bắt đầu hoạt động. 5 tháng, thai nhi có chiều dài khoảng 25cm, nặng khoảng 200g, tứ chi hoạt động có lực hơn, bắt đầu tích mở dưới da. 6 tháng, thai nhi dài khoảng 28~34cm, nặng khoảng 600~800g, nếu được sinh ra đã có thể hít thở nhưng khả năng sông là rất khó. 7 tháng, thai nhi dài 30~35cm, nặng khoảng 1200g, các tể chức trong cơ thể đã phát triển đầy đủ, sau khi sinh đã biết khóc và nuốt, nhưng sức sống còn rất yếu, khả năng sông được rất thấp. 8, 9 tháng, thai nhi phát triển rất nhanh, dài 40~50cm, trọng lượng cơ thể tăng nhanh, mổ dưới da dần dần đầy đủ, sau khi được sinh ra, tiếng khóc đã đanh, sức sông khỏe, khả năng sống được lớn. Có thể thấy rằng, thời gian mang thai càng dài thì sự phát triển của thai nhi càng được hoàn thiện, trẻ sơ sinh được sinh ra ỏ tháng mang thai thứ 8 có khả năng sống được chắc chắn là lớn hơn so vối trẻ sơ sinh 7 tháng, và cũng dễ nuôi hơn.

43. Bụng chân bị co rút thi phải làm thế nào

Sau 5 tháng mang thai, người phụ nữ mang thai thường ấy phần bụng chân bị co rút vào buổi đêm, nguyên nhân

Thai ngược

người có chứng huyết áp cao trong thời gian thai nghén, mang thai quá lâu, mang thai kèm viêm thận, thai nghén kèm huyết áp cao nguyên phát…phải kiêm tra hàm lượng Estriol trong nước tiếu hàng tuần đế phán đoán trạng thái của nhau thai và thai nhi.

Estriol trong nước tiểu được tập hợp trong dịch nước tiểu của 24 giờ đồng hồ. Phương pháp là không lấy dịch nước tiểu của lần đầu tiên vào buổi sáng sớm của ngày đầu tiên, sau đó mỗi lần đi tiểu (kể cả nước tiểu khi đại tiện) đều đựng vào đồ đựng sạch, dùng phễu cho toàn bộ vào bình tiểu, sau cùng cho nước tiếu vào buổi sáng sớm của ngày hôm sau vào, rồi đem đi phân tích.

41. Làm thế nào khi thai ngược.

Vào thời điếm trước 8 tháng mang thai, do thai nhi nhỏ, lượng nước ối khá nhiều nên vị trí thai nhi dễ dàng bị thay đổi. Sau 8 tháng mang thai, thai nhi đã lốn, vị trí của thai nhi dần dần được cố định lại. VỊ trí thai nhi bình thường, do phần đầu nặng nên phần đầu chúc xuông dưới, phần mông ỏ bên trên, phần lưng quay ra đằng trước, phần ngực hướng về đảng sau. Hai tay của thai nhi bắt chéo nhau ôm trước ngực, hai chân co lại, đầu gập vào, gáy là phần thấp nhất. Do vậy, trong y học người ta gọi là Chẩm vị (Vị trí của gáy).

Khi thai ngược, phần mông của thai nhi ỏ bên dưới, đầu hưdng lên trên, thai nhi ngồi trong tử cung. Đây là loại vị trí thai nhi không bình thường hay gặp nhất. Căn cứ vào tư thế của hai chi dưới của thai nhi, ngược thai được chia làm 3 loại: © đơn đôn vị: hai đùi uốn cong lại ở phần bụng, hai đầu gối duỗi thẳng, chỉ có phần mông lộ ra trước© đổn vị hỗn hợp: lúc này, cả phần mông và phần đầu gổì đều cong lại, chẩm vị vẫn ở tư thế như cũ, chỉ có đầu và mông bị ngược, mông và hai bàn chân lộ ra trước. Vị trí cẳng chân và đầu gối, lúc này. một chân hoặc hai chân, một đầu gối hoặc hai đầu gối lộ trước trong khi sinh nở, đầu gối ra trước thường chuyển thành chân ra trước.

Sinh thai ngược có những nguy hiểm nào? Đối với cơ thể mẹ, thưòng thì thai ngược không có mối đe dọa gì nghiêm trọng, nhưng lại rất nguy hại đối với thai nhi. Nguy hiểm chủ yếu gồm 2 điểm sau:

1)Cuống rốn bị dờ thẳng ra. Khi sinh thai ngược, phẩn mông vfa chán ra trước, nên không thế chèn đểu miệng tử cung như khi đáu ra trước, và có một sô khe hở ớ miệng cổ tử cung. Sau khi võ nước ối, cuỏng rốn dễ thoát ra ngoài qua những khe hở nay. Lúc này, có thể xuất hiện hiện tượng cuông rốn bị ép việc cung cấp ôxy bị gián đoán, khiên thai nhi tủ vong do thiếu óxy) Phần đầu của thai nhi bị kẹt lại. Sau khi phần móng ra trước, phần đầu-.phải được ra trong vỏng 8 phút, nếu khóng rất dễ bị thiếu ỏxy. Nhựng do phẩn đáu có đường kính lớn nên dễ bị kẹt lại.

Khi khám thai vào thời điểm sau 5 tháng mang thai, các bác sỹ đã có thế phán đoán vị trí của thai nhi. Nếu phát hiện thấy thai ngược thi cần có biện pháp để có thể thay đổi được.

Chỉnh vị trí thai ngược có những cách sau: ©Nằm trên giưòng cứng, phẩn đùi của người phụ nữ mang thai đặt thẳng trên mật giường, đấu gối và phần cánh tay trước đó lấy cơ thể đế phần ngực sát xuống mật giường. Nếu không có bệnh tim hoậc huyết áp cao thì thực hiện 2 lần mỗi ngày vào buổi sáng khi ngủ dậy và trước khi đi ngủ, mỗi lần lO phút, làm liên tục trong 7 ngày có thể có hiệu quả nhất định. Trước khi thực hiện nên đi tiểu tiện, đồng thời nới lỏng cạp quần.® Dùng ngẳỉ cứu vê đốt ám huyệt, từ âm huyệt đến vị trí cách 1 cm trén cạnh bên ngoài của móng chân ngón chân út. Mỗi ngày lần 1 lần mỗi lần từ 10~20 phút, làm liên tục trong 7 ngày.

Nếu sau 32 tuần mang thai mới phát hiện ra thai ngược

Đo lượng Estriol trong nước tiếu của người phụ nữ mang thai

ngửa có khoảng 10% cộ xuất hiện các triệu chứng như bị hạ huyết áp, mạch đập tăng nhanh, sắc mặt trắng bệch, buồn nôn, nôn mửa…Sau khi nằm nghiêng thì những triệu chứng này mất dần. Do vậy, vào giai đoạn cuối của thai kỳ, người phụ nữ cần tránh vị trí nằm thẳng.

39. Nhau thai bong sớm có những loại nào

Triệu chứng nhau thai bong sớm khác nhau do có sự khác biệt về kích thưốc nhau thai, phần vị trí nhau thai bong ra, kiểu chảy máu. Chủ yếu bao gồm ba loại sau:

(1) Xuất huyết (chảy máu) hỗn hợp: Diện tích nhau thai bong sớm nhỏ, chảy máu ít, có thể không có triệu chứng lâm sàng. Nếu nhau thai bong ra từ trung tâm, sẽ dẫn đến bầm huyết sau nhau thai, khiến phần cơ thể mẹ ở nhau thai tách khỏi thành tử cung, phần tách ra rất nhỏ, máu đông lại rất nhanh, các cục máu đông dần dần bị hấp thu. Loại chảy máu ít sau nhau thai này chỉ có thể phát hiện khi kiểm tra tiếp sinh nhau thai.

I (2) Chảy máu trong: nếu xuất huyết bên trong màng bọc, bầm huyết ngày càng lốn, nhau thai bị ép cùng phần diện tích tách ra khỏi thành tử cung cũng lớn lên. Do thai nhi chưa được sinh ra nên tử cung không thể co lại, không thể dừng được việc xuất huyết liên tục ỏ vị trí xuất huyết của tử cung, do vậy, xuất huyết ngày càng nhiều, cuối cùng làm cho nhau thai bị bong ra toàn bộ, đến tận mép của nhau thai. Phần bầm huyết lốn dần của tử cung lan rộng, trong trưòng hợp nặng, lượng máu tích trong khoang tử cung có thể lên tới trên lOOOml. Nếu xuất huyết tích lại quá nhiều, sau cùng tất nhiên sẽ phá ra khỏi mép nhau thai và chảy ra ngoài qua rriiệng cổ tử cung, gọi là chứng xuất huyết hỗn hợp nhau thai bong sớm. Khi xuất huyết nhiều, không những có thể gây ra bầm huyết ỏ nhau thai, mà’ còn kèm theo đó là các lớp ở thành tử cung cũng xuất huyết, khiến cơ tử cung hoại tủ đứt gãy. Người mắc chứng bệnh này bị đau bụng dữ dội liên tục trong trướng hạp năng, còn có thẻ bí ngất. Ngoài ra, còn có thế ảnh hưởng đến chức năng co lại của tử cung, làm chảy nhiều máu sau khi sinh,

(3) Chày máu ngoài: Chảy máu sau nhau thai phá vỡ đường giới hạn cua nhau thai, dịch huyết chảy ra ngoài qua khe hờ giữa nhau thai và thành từ cung, có thế xuất hiện chảy máu âm đạo, loại này dễ phát hiện, dễ chấn đoán.

40. Tại sao phải đo lượng Estriol trong nước tiếu của người phụ nữ mang thai

Hormono mi là loại hormone đặc trưng duy tri tính nữ do buồng trứng ở người phụ nữ trưởng thành tiết ra; theo kết cấu hóa học, hormone nữ có thể chia làm các loại sau: Estroní’ (K1). Estntdiol (K2), Kstnol (K3), Estetrol (E4). E3 là sản phẩm trao đổi ở gan của K2 và E1, thải ra ngoài qua đường nước tiểu.

Trong thời gian mang thai, hormone nữ trong cơ thể ngưòi phụ nữ táng lén rõ rệt, ngoài buồng trứng ra, thai nhi và nhau thai cũng tiết ra hormone nữ. Sau 8 tháng mang thai, Estnol tăng hơn 1000 lần so với lúc bình thường. Thông qua kiếm tra hàm lượng Estnol có trong nước tiểu có thể phản đoán được chức năng của thai nhi và nhau thai. Khi chức năng của nhau thai bình thường, sau tuần thai thứ 32, hàm lượng Estriol có trong nước tiểu đo trong 24 tiếng ở mức khoảng 10~35mg trở lén; nêu như chức năng nhau thai suy giảm, hoặc thai nhi phát triển có khiếm khuyết, thì hàm lượng Ẽstrioỉ ở mức dưới 12mg; nếu như thấp hơn 4mg thì điều này thể hiện thai nhi đang ở trong tình trạng nguy hiểm.

Những người phụ nữ mang thai như thê nào phải kiểm tra hàm lượng Estriol? Thường thì người ta cho rằng, những

Những nguyên nhân khiến nhau thai bong sớm

của nhau thai bám vào tử cung thấp quá, che lấp một phần hoặc toàn bộ miệng tử cung, gọi là nhau thai ở vị trí đằng trựớc, hiện tượng này làm chảy máu rất nhiều vào giai đoạn mới của thai kỳ. Trường hợp trước khi thai nhi được sinh ra, nhau thai tách khỏi tử cung, gây chảy máu ở giữa nhau thai và thành tử cung, gọi là bong nhau thai sớm. Trong tất cả các trương hợp, khi chảy máu khá nhiều thường gây ra tử vong ở thai nhi.

Cuống rốn là đường ống nối giữa nhau thai và thai nhi. Cuống rốn ở thai nhi đủ tháng to khoảng bằng ngón tay út như ở người trưởng thành, bình quân dài khoảng 60cm. Bên trong cuống rốn có ba đường huyết quản. Một số trường hợp do vận động ngẫu nhiên của thai nhi khiến cuống rốn bị xoắn lại nhiều, hoặc quấn quanh phần cổ; trong trường hợp nưốc ối nhiều, đặc biệt là khi thai nhi vận động mạnh, có thai nhi bị tử vong, nhưng hiện tượng này xảy ra rất ngẫu nhiên.

Mấy năm gần đây, với sự tiến bộ của kỹ thuật sản khoa, sự phát triển của chăm sóc sức khỏe khi mang thai, thường thỉ có thế kịp thời phát hiện được các hiện tượng khác thường ở người phụ nữ mang thai, ỏ thai nhi và nhau thai để kịp thôi có những biện pháp trị liệu thích hợp, giúp những thai nhí ớ trong tình trạng nguy hiểm tránh được tử vong.

Trong thời gian mang thai, nếu thấy có chảy máu âm đạo, không thấy thai nhi hoạt động, mang thai quá lâu…cần kịp thời đến khám bác sỹ. Nếu chẩn đoán chính xác là thai chết thi nhất định phải nghe theo chỉ dẫn của bác sỹ để tránh xảy ra các vấn đề khác.

38. Những nguyên nhân nào khiến nhau thai bong sớm

Nhau thai bong sớm là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra chảy máu trước khi sinh. Bình thường, nhau thai khi bong ra khỏi thành tử cung vào giai đoạn ba của quá trình sinh nở tức là sau khi thai nhi được sinh ra. Nếu vị trí của thai nhi phát triển bình thường mà khi thai nhi chưa được sinh ra mà một phần hay toàn bộ nhau thai tách ra khỏi thành tử cung thì đó chính là hiện tượng nhau thai bong sớm.

Nguyên nhân khiến thai nhi bong sớm do 4 nguyên nhân sau:

(1) Mắc chứng cao huyết áp trong thời kỳ thai nghén kèm với bệnh thận và bệnh huyết quản tim do tiểu động mạch co rút dẫn đến thành huyết quản mao tế ở đầu đàng xa thiếu ôxy

(2) Bị thương: như bị ngã.. bị va đập vào phần bụng; các nguyên nhân như vị trí của thai nhi khống thẳng, động tác thủ pháp quá nặng khi thực hiện xoay ngược lại, lao động thể lực nặng, ho nặng, đầu thai nhi ngắn, cuống rốn ngắn, bụng đột ngột bị giảm thấp.

3 Nhân tố tinh thần: nếu có những thay đổi mạnh về tinh thần: suy nghĩ hay lo lắng nhiều sẽ dẫn đến hiện tượng bong nhau thai sớm

(4) áp tính mạch của tử cung tăng cao, chứng huyết áp thấp khi nằm ngửa.

Tại sao thai nhi chết trong tử cung

của những cậu bé (cô bé) sinh đôi này giống nhau, vì thế, ngoài giới tính và nhóm máu giống nhau ra, diện mạo và dặc trưng tâm lý của cặp song sinh này cũng giống nhau. Hai thai nhi sinh đôi cùng trứng có chung một nhau thai, dịch huyết cũng nối thông lẫn nhau.

Còn một trường hợp sinh đôi nữa không phải là sinh đói cùng trứng, là sinh đôi khác trứng. Đó là do ỏ nữ giới rụng hai trứng một lần, trứng lần lượt kết hợp vối tinh trùng tạo nên. Hai thai nhi trong trường hợp sinh đôi khác trứng có nhau thai và các đường dẫn tạo thành hệ thống độc lập, không nối thông vói nhau. Nhóm máu của thai nhi có thể không giống nhau, giới tính cũng có thể khác nhau, diện mạo cũng không giông nhau lắm. Nếu người phụ nữ rụng nhiều trứng vào một lần thì có thể có hiện tượng đa thai nhiều trứng.

Theo thống kê, số lượng sinh đôi chiếm khoảng 1/80. Kỷ lục đa thai cao nhất thuộc về một người phụ nữ italia với kỷ lục sinh 8 bé vào năm 1979. Ngoài ra, còn có những phụ nữ dễ sinh đôi hoặc đa thai, có thông tin một phụ nữ người Nga đã sinh nở tất cả 27 lần, tổng cộng sinh được 69 người con.

Đa thai tăng gánh nặng đối với người phụ nữ, do vậy, cần chẩn đoán sớm để chăm sóc và bảo vệ tốt sức khỏe trong thời kỳ mang thai. Hiện nay dùng siêu âm B để kiểm tra %Tào tuần mang thai thứ 8~10 là có thể chẩn đoán được là có da thai hay không.

Mang thai đa thai khiến tử cung bành to ra rất nhanh diện tích nhau thai và trọng lượng khá lổn, lượng hormone sinh ra cũng cao, khiến lượng tiêu hao ỏ người mang thai da thai cao hơn rạt nhiều so với người mang thai đơn thai, vi thế, người mang thai đa thai dễ có các hiện tượng như nôn mửa, sảy thai, đẻ non, thiếu máu, chứng cao huyết áp trong í thòi gian thai nghén. Trong khi sinh nỏ, tử cung khó co lại, thai nhi dị thường, dễ bị chảy máu nhiều sau khi sinh do diện tích nhau thai bị bong ra lớn, cơ tử cung giãn ra quá độ khó co lại được, đễ bị nhiễm trùng.

Tử cung ở người phụ nữ mang thai lớn lên rất nhanh vào giai đoạn cuối của thai kỳ, có khoảng 80% phụ nữ bị đẻ non con sinh ra có trọng lượng thấp, tỷ lệ tử vong sau khi sinh cao. Do vậy, người phụ nữ mang thai đa thai cần định kỳ đi bệnh viện khám, cô gằng nhập viện khi sinh để tránh xảy ra những việc đáng tiếc.

37. Tại sao thai nhi chết trong tử cung

Tuyệt đại đa số những người phụ nữ mang thai đểu nuôi dưỡng thai nhi một cách thuận lợi đến khi đủ tháng và sinh nở, nhưng cũng có một sô ít thai nhi do nhiều nguyên nhân đã bị tử vong vào giai đoạn đầu, giai đoạn giữa và giai đoạn cuổì của thai kỳ. Nguyên nhân dẫn đến thai chết rất phức tạp, có một số bệnh có thê được các bác sỹ phán đoán chính xác nguyên nhân chết thai sau khi thai nhi được sinh ra, trong một số trường hợp vẫn cần phải phân tích thêm.

Thai nhi dị hình có khả năng tử vong ở bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ, cũng có trường hợp, ngoại hình bên ngoài không có biểu hiện gì bất thường, nhưng có khả năng tồn tại những bệnh về nhiễm sắc thể.

Phụ nữ mang thai bi mắc bệnh tiểu đường, viêm gan, viêm phổi, bệnh tim, thiếu máu và các chứng bệnh lây nhiễm virus vi khuẩn đều có thế là nguyên nhân dẫn đến thai nhi tử vong.

Thai nhi phát triển trong tử cung nhò vào việc hấp thụ các chất dinh dưỡng và dưỡng khí của cơ thể mẹ thông qua nhau thai, đồng thòi, thải những chất trao đổi của thai nhi vào tuần hoàn máu của cơ thể mẹ. Nếu như nhau thai phát triển không tốt, thể tích quá nhỏ, thời gian mang thai lâu, nhau thai lão hóa đều có thế gây ra tử vong ỏ thai nhi do thiếu dưỡng khí dần dần (mạn tính). Có trường hợp, vị trí

Bà mẹ mang thai cần phòng tránh thiếu máu

35. Bà mẹ mang thai cần phòng tránh thiếu máu

Vào giai đoạn giữa của thai kỳ quá trình trao đổi chất trong cơ thể người phụ nữ diễn ra rất nhanh và mạnh mẽ; Sự phát triển của tử cung, thai nhi, nhau thai sẽ khiến cho lượng máu tăng lên rất nhiều, nếu không chú ý, sẽ rất dễ bị thiếu máu. Lượng hemoglobin trong thời gian mang thai thấp hơn mức 10g/100ml, lượng hồng cầu thấp hơn  -1,5 triệu/ rnm3 thì có thể chấn đoán là thiếu máu.

Thiếu máu trong thời gian mang thai đa phần là thiếu máu do thiếu sắt. Tổng lượng sắt trong cơ thể được duy trì ở một lương nhất định, trong cơ thể của ngươi trưởng thành có khoảng 3~5g sắt, trong đó 70% hợp thành hemoglobin, trỏ thành thành phẩn tạo nên tê bào hóng cầu. Trong điếu kiện bình thường, mỗi ngày người trưởng thành cản được cung cấp Img sắt từ trong thức ăn. Những phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, do kinh nguyệt mất máu, thém vào đó, việc mang thai, sinh nở, cho con bú… làm mất khá nhiều sắt, nên càng cần phải được bổ sung kịp thời. Thường thì vào giai đoạn sau của thai kỳ, lượng dịch huyết trong cơ thể mẹ tăng 1/3, lượng sắt cần thiết khoảng lg, tất cà lượng sắt này được bổ sung qua ăn uống; nhưng điều cần chú ý là, dạ dày và ruột của con ngưòi chỉ có thể hấp thụ được khoáng 1/10 lương sát được cung cấp qua thức ân. Chẳng hạn như ]00g gan lợi có chứa trong đó 25mg sắt, khi ăn toàn bộ lQOg gan lợn này, thi chỉ có 2.5mg sắt được hấp thụ. Vì thế, bà mẹ mang thai cần chú ý bố trí ăn uống hợp lý, tăng thêm một cách có kế hoạch các thức ăn có nhiêu chất sắt. Nếu không bị thiếu máu, đồ ăn mỗi ngày cần chứa trong đó trên 20mg sắt, nếu đã phát hiện thiếu máu, thì cần bổ sung 40~60mg sắt. Đồng thời, còn cần uống viên sắt theo hướng dẫn của bác sỹ.

Ngoài chứng thiếu máu do thiếu sắt do ăn uống không thích hợp trong thòi kỳ mang thai, còn bị thiếu máu trong các trường hợp sau:

(Ị) Phản ứng thai nghén nặng vào thời gian đầu mang thai

(2) Đa thai

(3) Bà mẹ mang thai bị mắc bệnh về đưòng ruột dạ dày, khó hấp thu dinh dưỡng

(4) Bà mẹ mang thai mắc chứng bệnh mất máu cấp và mạn tính, như viêm loét dạ dày tá tràng, tri, kí sinh trùng đưòng ruột…

Nếu gặp các trường hợp trên, cần đến khám bác sỹ để chẩn trị đồng thời với việc bổ sung sắt.

Thế nào là đa thai

Thông thường, phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ mỗi tháng /ụỉig một trứng; ở nam giới mỗi lần phóng ra khoảng 1-2 trăm triệu tinh trùng. Nhưng trong số những tinh trùng này chỉ 06 một tính trùng có thể xâm nhập vào trứng, kết hợp thành tế bào noãn tinh, trứng được thụ tinh trải qua quá trình biến đổi phức tạp phát triển thành thai nhi. Nhưng cũng có lúc, một trứng được thụ tinh phân đôi thành hai tổ chức tế bào tương đương, Mỗi một tổ chức của hai tổ chức tế bào phát triển thành thai nhi. Đây chính là hiện tượng sinh đôi cùng trứng. Hai thai nhi của sinh đôi cùng trứng do kết hợp của một trứng và một tinh trùng, nhiễm sắc thể

Kịp thời chữa trị cho thai nhi phát triển chậm trong tử cung

Nguyên nhân hình thành thai to thường thấy là: Bố mẹ là người cao lớn, đặc biệt là người cha có vóc dáng cao lớn; © Dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai quá dư thừa, đặc biệt là hấp thụ các thức ăn có đường và chất béo quá nhiều (D những người mác bệnh tiểu đưòng do trao đổi chất không bình thường, thường sinh thai to© Mang thai quá thời gian thường khiên thể trọng của thai nhi tăng lên khá nhiều.

Có thể phát hiện thai to khi khám thai trước khi sinh, ngưòi mang bầu có thai to có phần bụng bành lớn rõ rệt so với người mang thai bình thường. Đáy tử cung khá cao, có thể sờ thấy phần đầu của thai nhi rất rộng. Các bác sỹ có thể dự đoán một cách khá chính xác kích thước của thai nhi bằng siêu âm B.

Khi sính nở, do thai quá lớn, nên phần vai của thai nhi khó chui ra được, nếu thòi gian quá lâu có thể làm cho thai nhi thiếu oxy, khí thở, thậm chí dẫn đến tử vong. Trong khi kéo thai nhi ra, nếu dùng sức quá mạnh có thể sẽ gây tổn thương cho thần kinh chi trên của thai nhi, chảy máu trong, xuất huyết trong não hoặc rạn phần cơ ở đáy xương chậu. Sau khi sinh, do tử cung nở quá lớn trong thời kỳ mang thai, lực co của cơ tử cung kém, có thể gây chảy máu nhiều sau khi sinh

Nếu phát hiện thấy thai lớn vào giai đoạn sau của thai kỳ, phụ nữ mang thai nên hạn chế ăn uống một cách thích hợp. Khi chẩn đoán chính xác là thai to, các bác sỹ sẽ căn cứ vào kích thước xương chậu của người phụ nữ, sinh nở lần đầu hoặc sinh nỏ lần tiếp theo, nưóc ối nhiều hay ít để xác định hình thức sinh nở.

34. Kịp thời chữa trị cho thai nhi phát triển chậm trong tử cung

Với những người phụ nữ có tiền sử các chứng bệnh xuất hiện trong thời gian mang thai, sinh nỏ khó, nếu như phát hiện thấy kích thước của thai nhi không tương ứng với thòi gian mang thai thì cần đi khám bác sỹ để kiểm tra xem liêu có phải thai nhi phát triển chậm trong tử cung hay không. Thông qua các biện pháp nêu ra dưới đây có thể phán đoán được tình hình sinh trưởng phát triển của thai nhi:

(1) Đo chiều cao của đáy tử cung. Nếu trong vòng 4 tuần liền, chiều cao của đáy tử cung ỏ dưới mức bình thường thì cắn đặt vấn đề thai nhi phát triển không tốt.

(2) Kiểm tra thể trọng của bà mẹ mang thai. Trọng lượng cùa bà mẹ mang thai tăng lên dần theo thòi gian mang thai, đến thời gian giữa và sau của thai kỳ, trung bình mỗi tuần thể trọng tăng 350~400g. Nếu như mỗi tuần cân một lần, trong 3 lần cân liên tiếp không thấy tăng trọng lượng cơ thê thì cho thấy có khả năng thai nhi phát triển không tốt.

(3) Dùng siêu âm để kiểm tra vị trí, phần ngực, phần đầu…của thai nhi, dự đoán trọng lượng của thai nhi, là phương pháp tương đối tin cậy.

(4) Kiểm tra hàm lượng Estriol trong nước tiểu của ngưòi phụ nữ mang thai. Nếu thai nhi phát triển chậm chạp trong tử cung, qua kiểm tra không có bệnh bẩm sinh, thì cần chữa trị kịp thòi.

Trước hết, bà mẹ mang thai cần tăng cường nghỉ giải lao ! và nghỉ ngơi ồ vị trí nằm nghiêng bên trái, khiến cơ bắp toàn thân thả lỏng thoải mái, giảm thấp áp lực của bụng, giảm bớt dung lượng máu trong cơ xương, khiến lượng máu trong khoang chậu tăng lên tương ứng. Phải tăng cường đinh dưỡng, tăng cường ăn đồ ăn có độ đạm cao, cung cấp nhiều nhiệt lượng, không được hút thuốc lá và uống rượu, cần tích rực chữa trị cốc chứng bệnh xuất hiện trong thòi gian mang thai* nếu cỏ thiếu máu cần bô sung sớm. Nếu có điều kiện, có thể cho bà mọ mang thai hít oxy 2-3 lần mỗi ngày, mỗi lần 1 liếng. Đồng thời, mời bác sỹ dùng thuốc để chữa trị.

Cần phóng tránh sinh thai to

toàn hình thành nên cổ tử cung đơn và âm đạo đơn, nhìn bên ngoài tử cung có hình hai cạnh, người có tử cung có hình hai cạnh sau này có thai thường sảy thai hoặc thai không thẳng.

Tử cung có vách ngăn dọc, vách ngăn dọc chia tử cung thành hai nửa, vách ngăn kéo dài xuống dưới âm đạo có thể chia âm đạo thành hai nửa

Một số tử cung không bình thường nhưng không ảnh hưởng tới các chức năng sinh lý như sinh nở, kinh nguyệt

Tử cung phát triển không bình thường nếu không có cảm giác khó chịu trong người thì cũng không nhất thiết phải chữa trị

Khi nhau thai bong sớm có những triệu chứng gì

Về mặt triệu chứng nhau thai bong sớm có thể chia thành hai loại nặng và nhẹ

Loại nhẹ thường xuất hiện thời gian gần trước khi sinh với triệu chứng chảy máu âm đạo

Nếu chảy máu ít thì không sao còn chảy máu nhiều người phụ nữ có nguy cơ thiếu máu

Tuy phần bụng không đau lắm nhưng người phụ nữ gần đến ngày sinh nở, có hiện tượng co tử cung từng đợt. Người phụ nữ có thể là do lao động quá sức hoặc do bị thương bên ngoài, cũng có khả năng mắc chứng cao huyết áp trong thời gian thai nghén.

(2) Loại nặng: thường xảy ra vào nửa sau của thời kỳ thai nghén, cá biệt xảy ra vào tháng mang thai thứ 4~5, phát bệnh đột ngột, người phụ nữ mang thai cảm thấy một bên bụng đau dữ dội, kèm theo là buồn nôn, nôn mửa, người bị nặng hơn xuất hiện các triệu chứng như người trước khi ngất như sắc mặt trắng bệch, váng đầu mắt hoa, toát mồ hôi lạnh, tứ chi lạnh; nếu không kịp thòi xử lý, người bệnh sẽ rơi vào trạng thái ngất, bị sốc, đồng thòi, thai nhi ngừng hoạt động, có một chút chảy máu âm đạo không nhiều.

Ngưòi bệnh thiếu máu nghieme trọng, mạch nhanh, huyết áp hạ thấp; phần bụng căng, tử cung có kích thước lốn . hơn so với kích thưốc tương ứng của thời gian mang thai; đáy tử cung nâng cao, có cảm giác bị ép đau. Đốỉ với người bị nặng, tử cung cứng như tấm gỗ, không sò thấy vị trí của thai nhi, không nghe được tim thai. Nếu phần nhau thai bong ra vượt quá 1/2 diện tích của nhau thai thì thai nhi có thể tử vong.

Nhau thai bong sớm là chứng bệnh rất nghiêm trọng vào giai đoạn cuối của thai kỳ, không xử lý kịp thời sẽ gây tử vong cả bà mẹ và thai nhi. Do vậy, nếu âm đạo chảy máu, phải đi bệnh viện khám ngay.

33. Cần phóng tránh sinh thai to

Khi thai nhi lúc sinh ra có thể trọng lên đến hoặc vượt quá 4kg thi được gọi là thai to. Khi xương chậu của cơ thể mẹ bình thường, vị trí thai nhi bình thường, có sức sinh đẻ và có quy luật, thai nhi có trọng lượng hơn 4kg vẫn có thể sinh nỏ an toàn.

Nhưng đốì với sản phụ thông thường mà nói, việc sinh no thai to sẽ gập khó khăn và có những môi nguy hiểm nhất định.