Con đường vui cho cuộc sống

Ban ngày, một góc trời phía Nam thành phố xanh mát một màu xanh của rừng, sực nức các làn hương các thứ hoa. Ban đêm, công viên mát dịu dưới hàng trăm ngọn đèn cao áp. Một khoảng hồ của hồ Bảy Mẫu đã được giữ lại, giữa hồ nổi lên một hòn đảo có nhà sàn, có mọi thứ cần thiết cho người Hà Nội muốn ra đây tìm những phút thư thái tâm hồn…
Tôi có thói quen từ mươi năm nay, sáng nào cũng vào trong công viên tập thể dục từ tảng sáng. Mười năm nay, trừ vài khuôn mặt người già đã từ giã tôi, từ giã những con đường công viên đi về bên kia thế giới, còn tất cả mọi người đến đó đối với tôi đã thành thân quen.
Đây là cụ Hân, đảng ủy viên đảng ủy phường, gắn bó với công viên, chăm chú tập thể dục buổi sáng từ những năm còn khỏe mạnh làm việc tại Bộ văn hóa rồi về hưu công tác ở phường, đến khi bị bệnh hiểm nghèo tưởng liệt hai chân vẫn sớm sớm đẩy chiếc xe vịn tập đi trên con đường từ nhà đến công viên, gặp ai cũng tươi cười, niềm nở, thường nói với bọn trẻ : “mình chẳng may bị bệnh mình tự cố chữa… pleurer, gémir, crier est également lâche (khóc, kêu rên đều khốn nạn – thơ của một nhà thơ Pháp).
Đó là một bác trung niên bị liệt nửa người đã anh dũng tự mình gượng dậy dần dần rồi như một đứa trẻ tập đi, từ lúc phải dùng một cái gậy chống, đến khi bỏ gậy cố gắng đi thẳng từng bước để tự mình chủ động trong mọi tình huống sinh hoạt.
Tôi quen một cán bộ cấp phó giám đốc từ khi ông còn đang chức. Bảy tám năm nay ông phải về hưu non vì mắc bệnh run tay. Thuốc Pháp, thuốc Mỹ giá hàng triệu đồng, chữa thuốc tốn kém quá, đã gần như khuynh gia bại sản, ông tìm đường ra công viên. Đi, chạy chậm, thở, xoa bóp, ông cảm thấy dễ chịu và tin yêu cuộc đời.
Tôi đã gặp những văn nghệ sĩ, nhà báo, nhà chính trị. Thiếu tướng côn an nhân dân Dương Thông là người chịu khó ra công viên. Ông chiến đấu tự mình với bệnh tật cho đến ngày phải hàng phục tử thần.
Một hôm nhà báo Lê Văn Ba, phó Tổng biên tập báo Người cao tuổi gặp tôi ngoài công viên. Chúng tôi đang chạy trên đường vòng quanh hồ công viên. Lúc nghỉ, nhà báo hỏi tôi :
Ông thấy trong công viên người già đông hay người trẻ đông hơn.
Tôi không ngần ngại trả lời ngay :
Có lẽ trẻ nhiều hơn già.
Phóng sự của Lữ Giang – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Ai quản việc dùng thuốc ở xã

Điều tra trên 25 xã phòng nghiệp vụ Dược cũng cho biết ở tuyến xã trong khi vẫn thiếu hơn 50% thuốc trong “Danh mục thuốc chủ yếu” ở cơ sở (theo quy định có 98 loại) thì lại có khá sẵn những thuốc thuộc tuyến trên như các kháng sinh thuộc thế hệ mới hoặc các kháng sinh đắt tiền (ciprofloxacin, doxycyclin, ghentamycin các thuốc tim mạch, lợi tiểu, chữa tăng huyết áp mới khó dùng (metyldopa, furasemit, digoxin) các hocmon steroid và thế phẩm (triamxinolon, dexametazon). Không có giải pháp hữu hiệu để quản lý “danh mục thuốc chủ yếu” ở cơ sở. Nguồn vốn chỉ rất ít (dưới 10%) là của xã, còn lại là của tập thể hoặc của riêng của cán bộ y tế. Công ty nhà nước chưa đưa được thuốc về nông thôn (như thời bao cấp). Phần lớn thuốc ở trạm y tế hoặc của riêng cán bộ y tế là mua từ các nhà thuốc tư, từ những người “buôn xong”, hoặc từ các mậu dịch viên của các công ty…
Điều không an tâm, không phải là thiếu thuốc mà việc dùng chưa hợp lý an toàn.
Tỉnh Quảng Trị có 53 vạn dân, có 125 điểm bán thuốc bình quân cứ một điểm phục vụ cho khoảng hơn 4000 dân. Nhưng gần 60% số điểm ken dày ở 2 thị xã lớn (Đông Hà có 6,4 vạn dân có tới 53 điểm, mỗi điểm chỉ phục vụ cho 1200 dân, thị xã Quảng Trị có 1,6 vạn dân có 20 điểm, mỗi điểm phục vụ cho 800 dân); số còn lại nằm ở các thị trấn huyện lị, còn hầu hết nông thôn bị bỏ trống trừ một vài chợ liên xã mới có một vài đại lý nhỏ.
Một số xã có cán bộ được về hưu, cán bộ dược mới tốt nghiệp (hầu hết là dược tá) chưa có việc làm nhưng không sốt sắng mở cửa hàng thuốc tư. Lý do mỗi xã trung bình ở miền xuôi có khoảng 3000 – 4000 dân, ở miền núi 1000 – 2000 dân. Doanh số hàng tháng tương ứng ở mỗi miền chỉ trên dưới 2 triệu hoặc 1 triệu đồng. Vì người ốm nặng cần nhiều thuốc đã đến bệnh viện, đến những người chữa tư, chỉ còn người ốm nhẹ mua ít thuốc mới tìm đến. Hoa hồng dù có tính 7 – 10% so với doanh số cũng không bù đắp nổi chi phí và nuôi sống bản thân.
Hầu hết các trạm y tế xã chỉ có một vài thứ thuốc cấp cứu, chứ không có cửa hàng bán thuốc như trước đây. Những cán bộ y (phần lớn là y tá) làm tư hay làm thêm ngoài giờ đều có “túi thuốc riêng” đi đến tận từng nhà”khám bệnh” và “bán” luôn cả thuốc. Một huyện nhỏ như Gio Linh (8 vạn dân) thống kê chưa đầy đủ đã có tới 64 người có “túi thuốc riêng” như thế.
Bùi Văn Uy – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – Số 31 (739) – 1997

Giới thiệu cây thuốc cây bông

Cây bông có nhiều loại. Ở nước ta, chỉ có 3 loài chính được trồng nhiều là bông cỏ (Gossypium arbreum L.), buông luồi (Gossypium hisutum L.) và bông hải đảo (Gossypium barbadense L.). người ta trồng bông để lấy sợi dùng trong công nghiệp dệt và y dược. Sợi bông (bông xơ) được loại hết chất mỡ bằng kiềm, rồi tẩy trắng và bật thành từng lớp gọi là bông hút nước dùng để băng bó vết thương. Trọng lượng sợi bông chiếm 25% đối với bông sợi ngắn và 33-35% (bông sợi dài). Trước đây, hạt bông sau khi lấy hết sợi, thường bị đổ bỏ hoặc đốt lấy tro. Về sau, người ta dùng hạt bông (để nguyên cả vỏ) để ép lấy dầu thắp và nấu xà phòng. Hàm lượng dầu trong hạt bông là 17-30%. Muốn dùng dầu bông để ăn, cần loại bỏ vỏ ngoài và chất gossypol là một độc tố.
Bộ phận dùng làm thuốc của cây bông là rễ và hạt:
-Rễ, thu hái quanh năm, chỉ dùng vỏ rễ. Vỏ rễ bông chứa vitamin K, gossypol, tanin, ít tinh dầu. Lấy 3g vỏ sắc hoặc nấu cao uống có tác dụng điều kinh. Ở Liên Xô cũ, vỏ rễ bông được dùng làm thuốc cầm máu tử cung dưới dạng cao lỏng. Rễ bông phối hợp với rễ cây quạch, rễ chuối tiêu và râu gô (liều lượng bằng nhau) sắc uống chữa xuất tinh sớm. Dùng 4-5 ngày.
-Hạt, thu hái lúc quả đã chín già chứa đầy sợi bông. Dùng máy cán xé các lông tách rời khỏi hạt. Đem hạt sao vàng (chất độc gossypol sẽ bị nhiệt độ phá hủy, tán nhỏ. Khi dùng, lấy 5g bột hạt sắc uống làm thuốc lợi sữa. Nó làm sữa tăng tỷ lệ bơ và casein. Ngày dùng một lần. Dùng riêng hoặc phối hợp với hạt vừng đen hoặc thông thảo. Trước đây, ở Nhật Bản, có lưu hành nhiều biệt dược làm tăng tiết sữa, được bào chế từ hạt bông như lactaogol, lactomin, mamain…
Sợi bông đốt thành tro (4g) phối hợp với cao da trâu hoặc bồ hóng (4g), trộn đều, uống chữa băng huyết, thổ huyết, đái ra máu. Dầu hạt bông đem hydro hóa rồi dùng uống có tác dụng tốt trong việc làm giảm cholesterol trong máu chống xơ vữa động mạch và hạ huyết áp. Dùng ngoài, dầu hạt bông chữa ghẻ lở.
Theo tài liệu nước ngoài, lá bông sắc uống chữa tiêu chảy và lị mới phát. Lá và hoa hãm uống có tác dụng giảm ho. Lá bông còn là thành phần trong hỗn hợp nước sắc của nhiều cây thuốc khác dùng chữa sốt cao. Dầu hạt bông có tác dụng hạ thấp cholesterol trong máu được xếp thành thứ tư sau dầu hạt cao su, dầu hạt hướng dương và dầu hạt ngô. Chất lichnin chiết được từ vỏ hạt bông (một loại phế thải) được bào chế thành dạng bột dùng để tẩy độc.
Hữu Bảo – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – Số 31 (739) – 1997

Ông cha ta nói về ăn

Ăn được ông cha ta rất coi trọng. “Không ăn thì me cũng chết”. Đó là nhu cầu tối thiểu để con người tồn tại, sinh sống và phát triển : “Có thực mới vực được đạo”.
Nhưng ăn như thế nào là một vấn đề chúng ta cần tìm hiểu. Tục ngữ có câu : “Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm”. Như thế có nghĩa là ăn cũng phải khéo. Khéo ở đây là phải biết cách ăn, là nghệ thuật ăn.
Muốn ăn ngon trước hết phải nấu ăn cho khéo. Khi làm một món ăn phải biết phối hợp một số thực phẩm bổ sung, gắn bó, tác động lẫn nhau làm sao cho hòa đồng để tạo thành hương vị thơm ngon :
“Nồi cơm kẻo với nồi canh
Quả bí trên cành kẻo với tôm he
Bánh rán kẻo với nước chè
Cô kia có kèo kẻo với anh đây”
“Cá nục nấy với dưa hồng
Lờ đờ có kẻ mất chồng như chơi”.
Cũng là “nồi canh”, nhưng có khi là “canh cần”, “canh rau cải” hay canh hoa lý thơm mát, cua đồng thanh đạm, ngọt lịm làng quê :
“Thương chồng nấu cháo le le
Nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen”.
Sự phối hợp khéo léo các loại thực phẩm thích hợp sẽ làm cho món ăn định bỏ đi trở thành một món ăn ngon :
“Chồng chê thì mặc chồng chê
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ”.
Không những thế, làm món ăn ngon, còn cần đến gia vị, mỗi gia vị phải hợp với từng loại thực phẩm :
“Con gà cục tác lá chanh
Con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi
Con chó khóc đứng khóc ngồi
Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng
Con trâu nhìn ngả nhìn nghiêng
Xin đừng mua riềng, mua tỏi cho tôi”.
“Thịt không hành, canh không mặn thì không ngon”. Có món ăn rồi chưa đủ. Khi ăn, ông cha ta cũng rất cần đến gia vị. Gia vị có đủ và đúng theo yêu cầu thì ăn mới ngon. Đây cũng là cách ăn rất dân tộc của người Việt Nam :
“Ê a thịt gà chấm muối
Thịt lợn chấm tương
Khoai lương chấm mật
Ngon thật là ngon !”
Một món ăn không thể thiếu được của người Việt Nam là rau. Nó là món ăn thường nhật, món ăn chính :
“Cơm không rau như đau không có thuốc” ;
“Giầu, khó đều phải ăn rau
Ốm đau đều phải có thuốc”.
Phải chăng, đây là món ăn quan trọng của dân tộc mà khí hậu nhiệt đới đã ban tặng cho chúng ta. Các nước Tây u rất hiếm rau. Không phải chúng ta nghèo nên phải ăn rau, mà rau chính là một vị thuốc tẩm bổ cho con người.
Lã Đăng Bật – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nộ – 1995

Bệnh lao ở người có thai và người đang cho con bú

Trước những năm 50, người phụ nữ khi có thai mà mắc lao thì phải bỏ thai đi; nếu sinh con không được cho con bú; hoặc không nên lập gia đình khi đã mắc bệnh lao; tỷ lệ tử vong mẹ và con thường cao
Ngày nay, với việc tìm ra một số thuốc điều trị bệnh lao, với các phác đồ điều trị có hiệu quả tiên lượng của bệnh đã thay đổi. Người có thai bị mắc bệnh lao không nhất thiết phải loại bỏ thai đi
Theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới: “Giải pháp đầu tiên nên được lựa chọn là hóa trị ngắn ngày” (Short-cairse chemotherapy)
Một số công thức được áp dụng ở nước ta cho đối tượng này đó là:
Dùng cho người lớn: 2 EHRZ/6HE. Thời gian điều trị: 8 tháng trong đó 2 tháng điều trị tấn công bằng 4 loại thuốc: ethambutol (E), izoniasid (H), rifampicin (R), , pyrazimenid (Z) và 6 tháng điều trị duy trì bằng 2 loại thuốc: izoniazid và ethambitol; Hoặc 2EHRZ/4R3H3. Thời gian điều trị 6 thang trong đó 2 tháng điều trị tấn công bằng 4 loại thuốc và 4 tháng điều trị duy trì bằng 2 loại thuốc, cách nhất 3 lần/tuần.
Dùng cho trẻ em: 2 RHZ/4RH. Thời gian dùng thuốc 6 tháng, trong đó 2 tháng đầu dùng 3 loại thuốc và 4 tháng sau điều trị duy trì bằng 2 loại thuốc.
Bằng phương pháp này đã chữa khỏi bệnh cho trên 90% số người mắc bệnh lao trong thời kì thai nghén
Nên tránh dùng stretomycin vì thuốc có thể gây điếc cho trẻ ngay khi còn là bào thai (khi người mẹ mang thai dùng thuốc) hoặc trong thời gian trẻ bú mẹ. Nếu phải sử dụng strptomycin thì nên cho phối hợp dùng vitamin B6 10mg hàng ngày.
Nếu mẹ đang nuôi con bằng sữa mà mắc lao, không nên tách trẻ khỏi người mẹ, mà cần phải tiếp tục cho trẻ được bú sữa mẹ. Điều này hết sức quan trọng đối với những người thiếu các điều kiện nuôi dưỡng cần thiết khác. Chỉ tách trẻ khỏi mẹ khi người mẹ đã bị ốm nặng, xét nghiệm đờm có vi khuẩn lao. Trong trường hợp này cần đưa trẻ đến sở y tế chuyên khoa lao gần nhất để kiểm tra sức khỏe:
-Nếu trẻ bị mắc lao, hãy cho trẻ được điều trị thuốc chống lao một cách đầy đủ theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.
-Nếu trẻ khỏe mạnh, hãy cho uống isoniazid hàng ngày trong 6 tháng
Nếu người mẹ bị lao phổi, xét nghiệm đờm không thấy vi khuẩn lao, cần cho trẻ được tiêm BCG ngay.
Qua một số nghiên cứu của các chuyên gia y tế trên thế giới cũng như thực tế ở nước ta trong những năm qua đã khẳng định là: kết quả điều trị bệnh lao phổi ở phụ nữ trong thời kì mang thai và sau khi sinh cũng không khác những người khác bị lao phổi. Điều quan trọng là người bệnh phải được phát hiện sớm, điều trị kịp thời, thực hiện đúng sự hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.
BS. Ngô Thế Quân – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 18 (643) – 1995

Sự nổi trội của bệnh dại trước kháng sinh của vacxin

Nói nôm na thì cứ 4 người Việt Nam nuôi một con chó. Chó ta, con nào cũng giống con nào, chúng chẳng có có tên (hoặc chăng chỉ được gọi chung là mực, vện, vàng, cún,..) được nuôi thả rông ở khắp nơi, nhất là ở các vùng nông thôn, thị trấn. Và cũng chính bởi lối nuôi thả rông này, chó mắc bệnh dại lên cơn, thường bỏ đi lang thang, cắn xé bất kì chó khác hoặc người mà nó gặp trên đường, làm bệnh lây truyền từ nơi này sang nơi khác.
Virus dại xuất hiện trong nước dãi của chó khoảng từ 3-5 ngày trước khi con vật có triệu chứng lâm sàng đầu tiên và trong suốt thời gian bị bệnh. Bởi vậy, trong khoảng thời gian này, nếu con chó này cắn người hoặc không vì lí do nào đó, nước dãi của nó dây vào các vết xước da trên cơ thể người, người đó sẽ bị nhiễm virut dại. Lúc này chỉ còn biện pháp duy nhất để cứu được tính mạng là phải được tiêm huyết thanh kháng dại và vacxin dại ngay. Bởi cho đến giờ, loài người vẫn chưa có thuốc đặc hiệu để chữa được bệnh dại lên cơn.
Như vậy, nếu không còn chó dại, thì bệnh dại ở người cũng bị triệt tiêu. Chiến lược “thanh toàn bệnh dại” tận gốc trên động vật được ngành thú y triển khai trong nhiều năm qua. Ngành đã sản xuất một khối lượng lớn (khoảng 1,5 triệu liều/năm) vacxin phòng dại cho chó; tổ chức nhiều chiến dịch tiêm phòng cho đàn chó. Nhưng thực ra, đây là một công việc không mấy suôn sẻ. Bởi chỉ cần so số lượng vacxin được sản xuất với số đầu chó đã thấy sự thiếu hụt vacxin ghê gớm. đó là chưa kể vacxin tiêm phòng dại cho chó hiện nay chỉ gây được miễn dịch cho chó từ 3 tháng tuổi trở lên. Nếu nhìn chung, tỷ lệ chó được tiêm phòng trong cả nước chỉ đạt từ 10-20%. Do vậy đàn chó nuôi trong dân càng tăng, thì số người bị chó cắn đi tiêm phòng dại cũng tăng theo. Năm 1984, mới có khoảng 100.000 người bị súc vật cắn đi tiêm phòng dại, thì trong năm 1994 số này đã lên tới 400.000 người.
.Những nỗ lực của ngành y tế
Để đảm bảo đủ vacxin cho số người bị súc vật cắn đi tiêm phòng dại ngày càng tăng, ngành y tế đã có 3 cơ sở sản xuất vacixin dại ở 3 miền: Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội, Viện sản xuất vacxin Nha Trang, Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh với sản lượng từ 300.000 đến 400.000 liều mỗi năm. Về kháng huyết thanh dại, ngoài việc nhập từ 5000-8000 ống của Pháp, ngành đang cố gắng sản xuất kháng huyết thanh dại trong nước để giảm giá thành và chủ động đáp ứng nhu cầu điều trị dự phòng.
Hồng Ngọc – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 18 (643) – 1995

Nước sạch đang có nguy cơ cạn kiệt

Các cụ ta từ xa xưa đã hiểu rõ về tầm quan trọng của nước : “ Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền”, đừng tưởng giàu như nước, hoặc lấy nước làm sạch ! Các cụ đã có tới hàng chục từ ghép về cái nhu cầu vô giá này như nước sông, nước suối, nước ngọt, nước lợ, nước mặn, rồi nước ăn, nước uống, nước tắm, lại còn nước nước, non non, cỏ cây, mây nước, nước bạc, nước cờ. Hơn thế đã từ xưa tiếng Việt, nước còn đồng nghĩa với quốc gia,lại có kẻ dùng nó như một thứ lợi nên khi không đạt nguyện vọng mới văng tục một câu : Chả được cái “nước” mẹ gì ? Tổng lượng nước trên hành tinh tuy không mất dần đi, nhưng nước sạch thì đang có nguy cơ cạn kiệt dần.
Nói về sự cần thiết của nước, nhất là nước sạch, một bài báo không sao kể hết, chỉ có thể tóm gọn một câu : Thiếu nước sạch thì không thể khỏe, không thể có niềm vui, không có nước sẽ không còn cuộc sống. Y tế thế giới đã tính được rằng 80% bệnh đều có liên quan đến nước. Ở nước ta các dịch bệnh đường ruột, đau mắt, nhiễm trùng da, tai mũi họng, phụ khoa đều từ nước bẩn. Sốt xuất huyết, viêm não, sốt rét truyền từ muỗi, mà nơi muỗi đẻ cũng từ nước tù đọng. Những thiếu hụt các yếu tố vi lượng của nước nảy sinh nhiều bệnh như bướu cổ do thiếu i-ốt, hư răng vì thiếu Fluor, thiếu máu vì do thiếu sắt. Lại còn nhiễm độc các hóa chất trừ sâu, và các sản phẩm thải loại công nghiệp. Điều nghịch lý là khi con người ngày thêm giác ngộ về vai trò của nước sạch thì đồng thời cũng ngày càng làm ô nhiễm nguồn nước. Vì thế mới lại xuất hiện nhiều sản phẩm nước trên thị trường như chai nước uống La Vie, Anh Đào, rồi xuất hiện các loại máy lọc, cột lọc. Trong khi mọi người cần sử dụng nhiều nước hơn cho sinh hoạt hàng ngày thì lại chính con người làm cạn kiệt dần nguồn nước đó và gây lãng phí ghê gớm, như đã có bao giờ dịch vụ rửa xe phổ cập như ngày nay ? Tắm cho người chưa đủ, lại tắm cho xe và càng phát triển công nghiệp thì nước trời càng mấy vào đây, càng phát triển du lịch thì dân nghèo càng thiếu nước vì một giường nằm khách sạn một ngày tốn tới 2 mét khối nước, riêng cái bồn tắm đã tốn trên một nửa trong khi dân sống chung quanh chưa được 40 lít/đầu người/ngày (tiêu chuẩn từ năm 1960 là 60 lít/người/ngày).
BS Phạm Năng Cường – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Phát triển y tế tư nhân theo hướng nào ?

Mấy năm gần đây, chất lượng khám chữa bệnh, đạo đức, phẩm chất của người thầy thuốc vẫn chưa lấy lại được lòng tin của nhân dân. Lại nữa, gần đây chế độ viện phí mới được áp dụng gây xôn xao trong dư luận về giá quá cao, không hợp với bệnh nhân nghèo, điều kiện vệ sinh môi trường không được đảm bảo… khiến cho người dân càng ngày càng ngại đến các bệnh viện. tất nhiên ở một số bệnh viện, nơi “y đức” vẫn còn được trân trọng và bảo vệ, nơi việc quản lý việc khám chữa bệnh vẫn được chú ý thì nơi đó vẫn còn được người dân tin tưởng. nhưng nhìn chung thì hầu hết các cơ ở y tế của Nhà nước đã không đạt hiệu quả như mong muốn trong công tác phòng và khám chữa bệnh cho nhân dân.
Trong bối cảnh đó, pháp lệnh về hành nghề y – dược tư nhân ra đời (L26/CTN ngày 13-10-1993) đã tạo điều kiện cho các cơ sở y – dược được tự “bung ra”, gánh đỡ sức nặng “trách nhiệm” cho các cơ sở y tế của Nhà nước. Những người mắc bệnh tật thông thường không nhất thiết phải đến bệnh viện, nhờ đó ở các bệnh viện các ca bệnh nặng được chú ý hơn, các giáo sư, bác sĩ có thể phát huy khả năng chữa trị và điều kiện trang thiết bị cũng được cải thiện. Cho đến nay đã có thể nói đã có một sự bùng nổ trong khu vực y – dược tư nhân. Hiện ở Hà Nội có hơn 1.600 cơ sở y – dược tư còn ở thành phố Hồ Chí Minh con số đó đã lên tới 3000. ở các cơ sở này, người thầy thuốc làm việc vì chính uy tín của mình, vì thu nhập của mình cho nên họ có một sự tận tụy “khác thường”. Ở đây, mọi thứ đều rất sòng phẳng, cho nên dù thực tế tiền công chữa bệnh cao hơn so với mức thu ở bệnh viện công nhưng người dân vẫn chấp nhận một khi họ đến mà được chữa trị kịp thời.
Hiện tại, có nhiều người là giáo sư, bác sĩ giỏi đã về hưu, hoặc ngay cả những giáo sư, bác sĩ trong các bệnh viện có thể làm việc ngoài giờ hành chính đều có thể mở hoặc tham gia khám chữa bệnh ở các cơ sở, phòng khám y tế tư nhân. Nhiều công nghệ kỹ thuật y học cao được nhập vào và áp dụng được ở Việt Nam. Đây là hai yếu tố rất quan trọng mà bất cứ cơ sở tư nào nếu biết vận dụng đều có thể thành công, thu hút nhiều người đến chữa bệnh ví dụ như Trung tâm ứng dụng công nghệ y học cao (55B Hàng Cót Hà Nội).
Trọng Nghĩa – Sức khỏe & đời sống / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Một tác phẩm kịch mới về đất nước

Cuộc gặp gỡ mang tính lịch sử này là sự muộn màng thảm hại đối với Đào Khanh, nhưng lại là sự mở đầu cho những ước vọng cao đẹp của Lê Duy và Đạm Phương tìm kiếm suốt 40 năm…
-Đối với tôi, đã có một con người bước vào đời tôi để rồi ra đi mãi mãi. Còn một người suốt 40 năm qua chỉ đi bên lề cuộc đời tôi nhưng đã mãi mãi ở lại trong trái tim tôi… – Có phải anh đã đến với cuộc gặp gỡ này bằng thời gian của 40 năm và chặng đường nửa vòng trái đất ? (Lời nhân vật Đạm Phương).
-Anh đã đến bằng bước đi của đất nước và bằng sự thôi thúc của trái tim mình (Lời nhân vật Lê Duy)…
“Cuộc gặp gỡ muộn màng” – một công trình nghệ thuật mới của Đoàn kịch toàn quốc lần thứ 8 (1996). Câu chuyện diễn biến trong suốt 40 năm được khái quát hóa, điển hình hóa súc tích và hấp dẫn mang tính thời sự nóng bỏng, tính xã hội đương đại được quyện chặt trong tính nghệ thuật một cách hữu cơ.
“Cuộc gặp gỡ muộn màng” – một vở diễn được xây dựng nghiêm chỉnh, mang tính hoành tráng, tính mạch lạc trong dẫn dắt sân khấu, tính đồng bộ trong yếu tố tổng hợp cả vũ đạo, âm nhạc và hội họa. Thiết kế mỹ thuật Doãn Châu, âm nhạc Doãn Nho, biên đạo múa Ứng Duy Thịnh…
Ê-kíp diễn “Cuộc gặp gỡ muộn màng” có đến bốn chục nghệ sĩ đầy tài năng của Đoàn lên sân khấu đông đảo, đồng đều, chặt chẽ. Trong vai Lê Duy, nghệ sĩ Hoàng Mai chân thực, đàng hoàng toát lên hình tượng một chiến sĩ quân đội nhân dân cống hiến, quên mình cho cuộc chiến đấu giải phóng đất nước rồi trở thành nhà khoa học sang Pa-ri, thủ đô nước Pháp, tiếp tục bảo vệ sự nghiệp đổi mới của đất nước thập kỷ 90 này. Nhập vai Đạm Phương, nữ nghệ sĩ Lan Hương đằm thắm, chững chạc, không cương cứng, khắc họa hình tượng người phụ nữ Việt Nam giàu nghị lực, trải qua cuộc sống trong bối cảnh xã hội – 40 năm – rất phức tạp với nhiều mối quan hệ (xã hội, lý tưởng, chồng con…) để rồi khi sang ở “đất khách, quê người” vẫn tỏ rõ lòng yêu nước và nhân ái của con người Việt Nam. Nghệ sĩ Phạm Cường trong vai Đào Khanh thời trẻ và nghệ sĩ Đức Long trong vai Đào Khanh về già thể hiện khá thành công nhân vật phản diện này – một con người đã phải trả giá cho lỗi lầm của mình, để rồi tàn tạ cả về mặt tâm hồn lẫn thể xác. Còn phải kể đến diễn xuất có chiều sâu của nghệ sĩ Minh Tuấn vai Quang Phán – vị chuẩn tướng phía bên kia đã nhận thức ra lẽ phải.
Hồng Lân – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – Số 26 (682) – 1996

Những danh ngôn nổi tiếng

Những người mập luôn tìm cách để gầy đi. Việc này không đơn giản chút nào, nó khá tốn kém mà chưa chắc đã thành công như ý muốn. Có nhiều nguyên nhân làm cho con người bị béo mập như di truyền. Tuy nhiên yếu tố này không đóng vai trò quyết định trong việc làm cho người ta trở nên quá béo. Nguyên nhân chính là do chế độ ăn uống chưa hợp lý. Những đồ ăn có mỡ (kể cả mỡ động vật và dầu thực vật), những đồ ngọt như bánh kẹo, đường… góp phần quan trọng làm cho con người béo hơn. Người lớn nhiều khi cũng vô tình bắt con mình béo mập ngay từ khi còn bé tí. Hễ chúng khóc đòi là họ đưa kẹo bánh ra để dỗ chúng. Mà trẻ con thì thường thích của ngọt. Dần dần những thức ăn đó tích tụ ngày một nhiều, khi trẻ đã quá béo phì thì chữa không kịp nữa. Con người trở thành những cây thịt là điều dễ hiểu.
Vậy chống mập bằng cách nào ? Đã có hàng vạn người khốn khổ vì chuyện này. Nhiều người ăn kiêng đến mức tuyệt đối, không đụng đến mỡ hay đồ ngọt. Nhiều người cũng đã ăn kiêng nhưng không sao cưỡng nổi thèm muốn và rồi kiêng được vài ngày lại ăn còn nhiều hơn trước. Có những người đi du lịch hay chạy nhảy cả ngày và ăn uống kham khổ nhưng kết quả thu được cũng không nhiều.
Các nhà khoa học cho rằng những biện pháp ấy có thể có hiệu nghiệm nhưng chỉ được một thời gin ngắn. 80% số người trong diện này chỉ sau một thời gian “ăn kiêng” sẽ không chống nổi thèm muốn và như vậy những gì họ cố gắng đều uổng công. Còn số người kiên định thường phải vất vả trước những cơn thèm ăn, họ tự biến mình thành tù nhân của chính mình, sức khỏe của họ hao đi rất đáng kể. Vì vậy, các nhà khoa học cho rằng chỉ có cách duy nhất làm cho cơ thể cân đối là phải có chế độ ăn uống hợp lý và khoa học ngay từ lúc còn là trẻ con.
(Đừng để mập quá)
Sự hững hờ như lớp tro giữ cho lửa cháy âm ỉ, nhưng đem ra khỏi lò thì tro chẳng còn hơi ấm nữa
R.Tagore
Sự xa cách làm phôi phai tình yêu hời hợt và làm thắm đượm thêm tình yêu nồng thắm, như cơn gió thổi tắt ngọn nến nhỏ và làm bùng cháy lên đống lửa lớn.
La. Roche foucault
Miệng : ở đàn ông là cửa đi tới tâm hồn, ở đàn bà là lối ra của trái tim.
Ambrose Pierce
Người đàn bà thường giấu không cho người đàn ông biết tất cả những si mê mà nàng có ở nơi chàng trong khi đó người đàn ông giả vờ bộc lộ cho nàng tất cả những si mê mà chàng không hề cảm thấy.
La. Bruyesre
Thanh Nguyên – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – Số 26 (682) – 1996