Cần lưu ý khi dùng viên nang

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, tháng 3 năm 1954 bác sĩ Vũ Đình Tụng, Bộ trưởng Bộ Thương binh và bác sĩ Tôn Thất Tùng, Thứ trưởng Bộ Y tế được Hồ Chủ tịch cử vào phái đoàn Chính phủ ra thăm mặt trận và trực tiếp làm công tác thương binh. Sau 19 ngày hành quân, ngày 3/4 hai vị đã tới đội điều trị 1 – trạm phẫu thuật tiền phương, ở tại các lán nhỏ ven suối. Hai vị đã trực tiếp mổ xẻ, cứu chữa cho các thương binh nặng tại đây. Sau chiến dịch, Hội đồng Chính phủ đã tặng thưởng Huân chương Chiến sĩ hạng nhất cho bác sĩ Vũ Đình Tụng và bác sĩ Tôn Thất Tùng. Trong Nhật ký tại Điện Biên Phủ viết trong những ngày công tác tại mặt trận, bác sĩ Tôn Thất Tùng đã có những dòng viết rất tâm đắc về “cụ Tụng”:
5/4: 7 giờ. Đêm qua cứ nghĩ đến các vết thương của các anh thương binh không ngủ được. Có nhiều vấn đề về điều trị hiện nay cần được đặt lại: bó bột kín lâu dài thay băng luôn, chữa băng lại, chống ruồi và việc cung cấp băng, gạc…
…Anh dũng của bộ đội, của dân công: một nước Việt Nam mới đó là những câu chuyện nói đi nói lại giữa cụ Tụng và tôi. Tiếc không có cụ Di ở đây cho vui…
10/4 bệnh viện đã sạch hơn. Ước mong của mình: thương binh ăn được, ngủ được, có màn, khỏi ruồi. Nói chuyện với cụ Tụng, cụ Thu. Cứ chuyện anh dũng của thương binh, chuyện khắc phục khó khăn gian khổ của dân công, bác sĩ, y sĩ hộ lý… Nói mãi không hết.
(Bác sĩ Vũ Đình Tụng)
Cách đây ít năm, khi nói đến viên nang (nhộng) người ta chỉ quen và nghĩ đến thuốc ampicilin (thuốc được đóng trong nhộng đỏ – đen). Nhưng hiện nay trên thị trường đã tràn ngập các loại viên nhộng của rất nhiều loại thuốc khác nhau: từ vitamin C đến thuốc chữa đi ngoài (becberin), thuốc chữa cảm cúm (paradol) cho đến thuốc kháng sinh…
Khi sử dụng viên nang cần chú ý một số vấn đề sau:
-Về màu sắc của viên nang
Viên nang có rất nhiều màu sắc khác nhau, màu sắc của vỏ nang giúp phân biệt giữa các chế phẩm khác nhau. Ví dụ: Tetracyclin 0,5g đóng trong nang nửa đỏ -nửa trắng, lincomicin 0,5g nang nửa xanh thẫm – nửa xanh nhạt, ritammicin nang hai nửa đỏ thẫm… Nhưng bên cạnh đó cũng rất nhiều nơi sản xuất đã lạm dụng màu sắc này trong việc đóng nang. Chỉ riêng vitamin C, hãng này bỏ trong nang màu nâu, còn hãng kia lại bỏ trong nang nửa trắng – nửa hồng.
Lã Xuân Hoàn – Báo Sức khỏe và Đời sống – Hà Nội – Số 31 (739) – 1997

Táo bón sau đẻ

Nguyên nhân gây táo bón có nhiều, nhưng với sản phụ thường gặp 2 nguyên nhân :
Một là do mất máu quá nhiều, huyết kém kéo theo khí kém. Huyết kém gọi là âm hư; âm hư dễ sinh nội nhiệt.
Hai là do vị thực – sau đẻ, ngoại tà thừa cơ xâm nhập vào trong (nhập lý) – làm ăn uống khó tiêu, tích trệ, sinh nhiệt do vậy mà táo bón.
Huyết hư táo bón
Sau đẻ, nhiều ngày không đại tiện, hoặc đại tiện phân rắn như phân dê; da xanh, khô, bụng không chướng; chất lưỡi nhợt, mạch hư huyền. Cũng có thể miệng khô, ngực đầy, rêu lưỡi vàng mỏng – chất lưỡi đỏ, mạch tế sác có thể dùng bài thuốc : Xuyên khung 8g, bã tử nhân 10g, đương quy 16g, nhục dung 10g, bạc thược 8g, kỷ tử 12g.
Hoặc dùng bài : Đại ma nhân ghiền nhỏ 40g; nhân sâm 40g; chỉ thực 40g; đại hoàng 20g. Tất cả tán nhỏ làm viên, mỗi viên 0,03g; ngày uống 20 viên.
Hoặc dùng bài : Thục địa 16g; đương quy 16g; mạch môn 12g; đẳng sâm 16g; chỉ thực 12g; chỉ xác 12g; sắc uống hai ngày một thang.
2. Táo do vị thực
Sản phụ phát sốt, táo bòn, người cảm thấy bứt rứt khó chịu, bụng dưới tức căng. Có thể sốt về chiều, mồ hôi ra lấm tấm, rêu lưỡi vàng, mạch trầm thực.
Chữa có thể dùng bài : Đại hoàng 8g; đương quy 16g; hậu phác 12g; mạch môn 12g; chỉ thực 12g. Sắc uống hay ngày một thang.
Hoặc dùng bài : Muống trâu 12g; chút chít 12g; mạch môn 12g; chỉ thực 12g; chỉ xác 12g. Sắc uống hay ngày một thang.
Trọng Nghĩa
Phát hiện mới về vai trò của Vitamin E
Cũng tương tự như aspirin, mỗi ngày người ta lại phát hiện thêm những tác dụng kỳ diệu mới của vitamin E. Loại vitamin này được các nhà khoa học xếp vào danh sách các tác nhân chống lão hóa, nhờ khả năng chống lại các gốc tự do sản sinh ra trong quá trình ôxy hóa diễn ra trong các tế bào sống. Các loại dược phẩm được bán ra tại thị trường nước ta trong thời gian gần đây như menorin, saylom, belaf,… đều là những loại thuốc chống lão hóa mà thành phần có chứa vitamin E.
Vitamin E còn có tác dụng phòng chống sự kết tụ các chất cholesterol loại xấu tại thành các động mạch gây ra căn bệnh xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và các tai biếm tim mạch. Người ta nhận thấy rằng nếu hàng ngày uống một liều từ 100 đến 800 đơn vị quốc tế (UI) vitamin E sẽ có tác dụng chống lại các tắc nghẽn mạch vành dẫn tới nhồi máu cơ tim. Với liều 200 UI một ngày sẽ làm chậm lại sự tiến triển của căn bệnh lú lẩn ở người già là bệnh Alzheimer.
Gần đây, các nhà khoa học Mỹ còn chứng minh được một hiệu quả nữa của Vitamin E là tăng cường khả năng miễn dịch của người cao tuổi. Một liều 300 UI vitamin E mỗi ngày sẽ làm tăng một cách đáng kể hàm lượng các chất kháng thể trong máu có tác dụng chống lại các quá trình nhiễm khuẩn.
Kiều Hương
Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 7 (768) – Năm thứ 37 – 1998

Phụ nữ dễ bị viêm niệu đạo, vì sao ?

Viêm nhiễm niệu đạo (đường bài tiết nước tiểu) là căn bệnh thường gặp ở phụ nữ, nguyên nhân là do vi khuẩn xâm nhập hệ thống bài tiết nước tiểu, khu trú và sinh sôi nảy nở rất nhanh, gây viêm loét. Nữ thường viêm nhiễm đường dẫn nước tiểu nhiều hơn nam. Đây là vấn đề gây rất nhiều phiền toái cho chị em phụ nữ. Vậy nguyên nhân là vì đâu và liệu có cách phòng tránh hay không ?
Trước hết, cần phải biết những đặc thù của hệ bài tiết ở nữ giới
Đường dẫn nước tiểu (niệu đạo) ở nữ ngắn và rộng hơn so với nam giới, nên vi khuẩn rất dễ xâm nhập. Ngoài ra, cửa ra của đường nước tiểu rất gần với cửa âm đạo và hậu môn – là nơi luôn có rất nhiều vi khuẩn khu trú. Các chất nội tiết của âm đạo cũng là nền nuôi dưỡng vi khuẩn rất tốt, làm cho chúng dễ dàng sinh sôi nảy nở. Bởi vậy, cách phòng tránh đơn giản nhất là chị em phải năng rửa để giảm thiểu số lượng vi khuẩn bám vào, như vậy cơ hội phát bệnh sẽ ít đi.
Các hoạt động sinh lý : Kinh nguyệt và sinh hoạt tính dục
Máu kinh là môi trường nuôi dưỡng vi khuẩn rất tốt, vì vậy việc vệ sinh kinh nguyệt, đặc biệt là việc làm sạch và tiêu độc các đồ dùng kinh nguyệt là một khâu quan trọng nhằm giảm thiểu số lượng vi khuẩn xâm nhập. Sinh hoạt tình dục có thể làm cho vi khuẩn bám ở phía trước niệu đạo bị dồn nén, bởi lực cơ giới đẩy vào trong niệu đạo và bàng quang.
Thực tế cho thấy không ít trường hợp phát bệnh xảy ra sau những cuộc giao hoan. Sinh hoạt tình dục là một phần quan trọng và tất yếu trong quan hệ vợ chồng, nhưng trong trường hợp bệnh cứ lặp đi lặp lại, do liên quan tới việc “chăn gối”, thì “tiết dục” một cách điều độ là vô cùng cần thiết. Ngoài ra, còn phải thực hiện biện pháp sau đây : Trước khi “chăn gối”, nên uống một ca nước trắng đun sôi để nguội, nhằm tăng lượng nước tiểu; sau khi kết thúc cuộc giao hoan nên đi tiểu ngay để xối đẩy những vi khuẩn đã chui vào niệu đạo ra ngoài, trước khi chúng đủ thời gian bám và chui vào phía trong vào niêm mạc thành vách niệu đạo. Nếu cả hai cách đó đều vẫn không làm tiệt nọc phát sinh viêm nhiễm đường dẫn nước tiểu, thì sau khi sinh hoạt tình dục có thể uống thuốc kháng khuẩn (loại thuốc và lượng thuốc dùng cụ thể phải theo sự chỉ dẫn của bác sĩ), như vậy hiệu quả dự phòng sẽ tương đối tốt, hơn nữa lượng thuốc không lớn, chỉ uống 1 lần nên tác dụng phụ (nếu có) là rất nhỏ, hầu như không đáng kể.
Khi có thai
Khi mang thai, tử cung (dạ con) phình to dần có thể chèn ép bàng quang (bóng đái) và ống dẫn nước tiểu, sự thay đổi nội tiết cũng làm chậm quá trình dãn và nhu động của ống dẫn nước tiểu, hoặc gây nên hiện tượng tích tụ nước tiểu ở mức độ nhẹ. Trường hợp này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập, khu trú và sinh nở. Trước kia, người ta thường có khuynh hướng dùng thuốc kháng khuẩn để dự phòng, nhưng cách đó không phải là tốt. Bởi thực tế cho thấy việc lạm dụng thuốc kháng khuẩn sẽ ảnh hưởng không tới sức khỏe của cơ thể của cả người mẹ và thai nhi. Phương pháp an toàn nhất là thường xuyên quan sát kỹ, định kỳ kiểm tra nước tiểu, để sớm điều trị ngay khi bệnh chớm phát.
Thói quen có hại : Nhịn đái
Đây là một thói quen không hay, thường thấy ở nữ giới. Nhịn đái sẽ gây nên hai hậu quả xấu. Một là thời gian nước tiểu dừng lại ở bàng quan lâu, nếu như có một lượng nhỏ vi khuẩn xâm nhập, thì nó càng có thời gian “sinh com, đẻ cháu”, và càng có cơ hội chui vào các tổ chức khác. Hai là, bàng quan căng phồng quá mức bình thường, áp lực tăng lên, nước tiểu có thể đi ngược lên ống dẫn nước tiểu, nếu đã có sẵn vi khuẩn xâm nhập thì vô tình đẩy vi khuẩn di chuyển lên “thượng nguồn dòng chảy”, tràn tới thận và gây viêm thận. Bởi lẽ đó, cần phải luyện thành thói quen tốt là “năng” tiểu tiện.
Bùi Tú Loan – Báo Sức khỏe & Đời sống – Số 7 (768) – Năm thứ 37 – 1998

AIDS kẻ đang tước đoạt những thành quả của công tác bài trừ Bệnh Lao

Cùng với sự xuất hiện của đại dịch nhiễm HIV/AIDS, sự quay trở lại của bệnh lao là vấn đề khẩn cấp của các chương trình chống lao quốc gia và của sức khỏe cộng đồng. Đặc biệt sự tái hoạt động của bệnh lao tiềm ẩn đã mắc trong quá khứ ở các bệnh nhân nhiễm HIV và AIDS đã dần dần tước đoạt những thành quả của công tác bài trừ bệnh lao.
Theo thông báo tại hội nghị lần thứ 18 ở Đông Nam Á về lao và bệnh phổi họp tại Băng – la – đét tháng 10 -1995 thì đến giữa năm 1995, Tổ chức y tế thế giới ước tính có trên 18,5 triệu người lớn và 1,5 triệu trẻ em bị nhiễm HIV, trong đó ít nhất có 4,5 triệu người đã phát triển thành AIDS và trong số này có 5,6 triệu người nhiễm đồng thời cả lao và HIV. Tỷ lệ lao phổi ở người bị nhiễm HIV là 1,1 và trong những bệnh nhân AIDS là 23,7 ( ở thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ HIV dương tính trong các bệnh nhân lao là 5,92). Với tình hình này, dự tính đến cuối thiên niên kỷ này, Châu á sẽ vượt Châu phi về tỷ lệ nhiễm HIV; và sự gia tăng bùng nổ bệnh lao sẽ tương tự như ở Châu phi.
Bệnh lao liên quan chặt chẽ đến HIV, đặc biệt là những người có HIV dương tính, một vấn đề lớn cần được quan tâm cho sức khỏe cộng đồng là khi kết hợp với nhiễm HIV, bệnh lao trở nên phức tạp và nghiêm trọng hơn. Một số cơ thể có thể bị nhiễm mầm bệnh M.tuberculosis kháng đa thuốc, đòi hỏi phải điều trị theo những chế độ nhiều loại thuốc trong thời gian dài. Tỷ lệ phản ứng với thuốc ở những bệnh nhân bị lao có kèm theo HIV cao hơn rất nhiều so với các bệnh nhân không bị nhiễm HIV.
Vấn đề lớn nhất trong điều trị lao có HIV dương tính là sự gia tăng của kháng đa thuốc với nhiều loại trong số 9 loại thuốc đã được phát minh. Khuyến cáo hiện tại đối với hóa trị liệu bệnh lao đối với các bệnh nhân HIV dương tính là hàng ngày sử dụng tối thiểu 4 loại thuốc bao gồm : Rifampicin, isomiacid và ethambutol trong thời gian ít nhất là 9 tháng dưới sự giám sát trực tiếp. Nếu mầm bệnh kháng lại bất kỳ một loại thuốc nào trong các loại thuốc trên thì có thể sử dụng các loại fluoquinol one.
Tình hình nói trên đòi hỏi chúng ta phải quan tâm tăng cường và đổi mới trong công tác quản lý phòng trừ bệnh lao, phát triển những nghiên cứu hướng tới việc cải tiến để điều trị tốt hơn các trường hợp mắc lao đồng thời nhiễm HIV.
BS Bùi Thị Mai – Sức khỏe và Đời sống – Số 13(669) – Năm thứ 35 – Năm 1996

Ăn cái tết cũng phải công nghiệp hóa – hiện đại hóa

Năm Trâu hết, năm Hổ đến. Ngẫm thấy điều này cũng hay hay. Con trâu chăm chỉ và chập chạm là đầu cơ nghiệp của nhà nông hay nói theo chữ là cái vốn ban đầu của “con người nông nghiệp”, còn con hổ là… tư bản của “con người công nghiệp”. Nghe ra có vẻ lý sự cùn? Xem quảng cáo trên ti vi chẳng thấy con Hổ biến hình lao lên phía trước trông rất ngoạn ngục, rất tốc độ đấy sao. Tăng tốc mà! Chất lượng là đặc tính số một của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nói cách khác “người công nghiệp”, “người hiện đại” phải ăn tết theo kiểu mới, mà vẫn đậm đà nét dân tộc. Dân ta vẫn nói “ăn tết” mà không nói hoặc chưa nói “chơi tết”, “vui tết” vì xưa kia đói nghèo ngày Tết sum họp là phải lo cái sự ăn đã.Mà “số lượng” vẫn áp đảo “chất lượng”. Đã thế lại “tháng giêng là tháng ăn chơi”, “tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”, là thói quen của người nông nghiệp, ngày nay không còn thích hợp nữa… Lẽ tự nhiên trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc không thể quá sơ sài, đại khái, qua loa. Song thiết nghĩ chất lượng là trên hết; chúng ta hãy công nghiệp hóa – hiện đại hóa cái Tết Mậu Dần này sao cho giản tiện, tiết kiệm, ấm cúng từ trong nhà ra ngoài ngõ đến cơ quan, xí nghiệp, từ sự tiêu pha mua sắm, cúng bái, lễ lạt, hội hè, thăm hỏi, sơ kết, tổng kết, chúc mừng, từ Quân đến Dân… Có chất lượng mới có hiệu quả. Trong kinh doanh, làm ăn cũng như trong vui Tết, sử dụng đồng tiền và thời gian theo kiểu công nghiệp điều phải có hiệu quả. Hết mồng một, nhà nhà, người người, ai cũng đầy sinh lực, khí thế, sẵn sàng bước vào một ngày lao động công nghiệp chất lượng và tốc độ.
Cá Lamproie chữa lành liệt chi do đứt tủy sống?
Trong các loài có xương sống, chỉ riêng cá Lamproie – một động vật nguyên thủy dưới nước, hình lươn là có khả năng tự làm liền lại tủy sống khi bị cắt đứt. Theo các nhà nghiên cứu thuộc đại học Pensylvanie (Mỹ) quá trình tái sinh tủy sống này nhờ vào một protein mà gen đang được xác định. Bằng cách “ghép” gen của cá cho những người bị liệt 2 chi và tứ chi, các nhà nghiên cứu hy vọng bệnh nhân sẽ khỏi liệt.
Trần Lan – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 1+2 (762+763) – 1998

Phương pháp mới chữa bệnh thấp khớp

Thấp khớp là một căn bệnh gặp ở phần lớn những người cao tuổi, đặc biệt phổ biến ở những vùng nóng và ẩm. Theo giới y học Mỹ cho đến nay, thật ra người ta còn chưa biết chính xác nguồn gốc sâu xa của nó. Y học chỉ mới tìm ra hậu quả của căn bệnh này là nó đã khiến cho cơ thể sản xuất ra quá nhiều chất IL 1. Chất này đã kích thích các bạch huyết cầu di chuyển về các khớp xương làm các khớp sưng lên và ăn mòn các đầu sụn của xương, gây đau đớn.
Giáo sư Christ Evens, Trường đại học Pitsburg Mỹ, vừa tiến hàn những thử nghiệm đầu tiên vào cơ thể người theo một phương pháp chữa thấp khớp hoàn toàn mới mẻ : cấy gen – những kết quả đầu tiên cho thấy các kết quả khả quan. Đồng thời ưu điểm của phương pháp mới ít gây phản ứng phụ, nguy hiểm như một số thuốc trị thấp khớp trước đây. GS Christ Evens cho biết mấu chốt của phương pháp mới ở chỗ giữ được nồng độ cao các chất chống thấp khớp khu trú thời gian dài tại các khớp. Điều này không thể đạt được khi dùng thuốc thông thường, vì các prôtêin không dễ dàng “tìm đến” các khớp xương, còn nếu uống thì chúng cũng dễ bị phân hủy trong hệ tiêu hóa ngay trong ruột. Ngược lại nếu dùng một gen có khả năng tạo ra một loại prôtêin có khả năng “ngăn chặn” các tế bào có thể không sản xuất ra IL1 và khu trú lâu dài ở các khớp thì sẽ có hiệu quả rất cao. Nội dung của phương pháp mới như sau : Trước hết “lấy” ra một miếng khớp của bệnh nhân và cấy một loại virut nào đó. Virút này đã được xử lý sao cho nó vào tế bào chứ không còn khả năng gây bệnh. Sau đó đưa trả lại miếng khớp vào khớp xương đau của bệnh nhân…
Cho đến nay giáo sư Evens đã chứng minh được là những tế bào với miếng gen mới thêm này đã sản xuất được các prôtêin trị liệu. Phương pháp mới đã được thử trên các con thỏ bị thấp khớp và chúng đã khỏi bệnh. Nay đã đi vào giai đoạn điều trị thử trên người bệnh.
Tuy nhiên, theo GS. Evens hiện nay còn quá sớm để có thể kết luận về mức độ lành bệnh hoàn toàn hay một phần.
Vũ Thế Phi – Sức khỏe & đời sống – Số 9 (717) / Bộ Y tế. – Hà Nội – 1995

Hạt quả làm thuốc

Khi ăn các loại quả, ta thường vứt bỏ hạt. Nhưng chính những “dư phẩm thực vật” đó có nhiều loại là các vị thuốc được dùng phổ biến trong y học cổ truyền và theo kinh nghiệm dân gian. Tích cực thu nhặt và tận dụng các loại hạt quả, ta có thuốc chữa bệnh khi cần thiết và có thể bán cho các cửa hàng thu mua dược liệu để khỏi lãng phí một nguồn dược liệu lâu nay được lưu ý
1 – Hạt táo: Chỉ dùng hạt của loại táo chua. Hạt táo đem ngâm nước lã 4 – 5 ngày. Rửa sạch cùi và đất cát, phơi khô. Đổ vào cối xay đá, xay cho vỡ vỏ ngoài. Sàng bỏ hết vỏ, lấy nhân. Cho nhân hạt táo vào chõ, đồ chín rồi phơi thật khô. Khi dùng để nguyên hoặc sao đen. Trong nhân hạt táo, có chất béo, đường, một ít tinh dầu. Nhân hạt táo, tên thuốc trong y học cổ truyền là toan táo nhân, có vị ngọt, chua, màu nâu sẫm, tính bình, có tác dụng yên tâm thần, chữa chứng mất ngủ, buồn phiền, thần kinh suy nhược, tay chân nhức mỏi, mồ hôi trộm. Người lớn dùng 2 – 3 ngày liền, mỗi ngày 0,8 – 1,8g (15 – 30 hạt) dưới dạng nước sắc. Chú ý theo dõi các hiện tượng phản ứng vì uống quá liều có thể bị ngộ độc, mất tri giác. Trẻ em nhỏ tuổi, người đang bị sốt, cảm không được dùng. Nhân hạt táo (6g sao đen) phối hợp với long nhãn, mạch môn, hạt sen, sinh địa, thảo quyết minh (mỗi thứ 12g), sắc hoặc làm viên uống chữa hồi hộp, hay hoảng hốt, mê sảng
2 – Hạt đào: Đập vỡ vỏ hạt của quả đào chín, lấy nhân (đào nhân) phơi hoặc sấy nhẹ đến khô. Khi dùng, để nguyên vỏ lụa và đầu nhọn, giã giập dùng sống (có tác dụng phá huyết) hoặc ngâm nước nóng cho tróc vỏ lụa, cắt bỏ đầu nhọn sao vàng (để hoạt huyết). Đào nhân chưa 50% dầu béo, 3,5% amygdalin, 0,4 – 0,7% tinh dầu. Dược liệu có vị đắng, ngọt, tính bình, có tác dụng khử ứ trệ, nhuận tràng, lợi tiểu, điều kinh, cầm máu, giảm ho, thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác theo công thức sau: Đào nhân, hồng hoa, tô mộc, mần tưới, ngưu tất, nghệ vàng (mỗi vị 8 – 10g) sắc với 400ml nước còn 100ml uống làm 2 lần trong ngày chữa kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh (Nam dược thần hiệu). Đào nhân (6g), đương quy (10g), xích thược (10g), hồng hoa (5g), xuyên khung (3g) sắc nước uống làm nhiều lần trong ngày chữa bế kinh, ứ huyết
Đào nhân (10g) giã nhỏ, nấu với 50g gạo nếp và nước thành cháo ăn trong ngày để chữa ho, hen suyễn, khó thở
3 – Hạt gấc: Tên thuốc là mộc miết tử. Khi dùng, đập vỡ vỏ cứng, lấy nhân. Nhân hạt sống hoặc đồ chín đều dùng được. Nhân hạt gấc chứa 55,3% dầu béo (theo tài liệu trong nước) hoặc 47% (tài liệu nước ngoài). Chất glucid, protid, tanin, đường. Nhân màu trắng, có vị đắng, hơi ngọt, tính ôn, hơi độc, có tác dụng tiêu viêm chữa sung vú, ứ huyết, quai bị, mụn nhọt, lòi dom. Thường chỉ vùng ngoài da. Cách làm như sau: Mài nhân hạt với ít rượu 30 – 40 độ hoặc giấm thanh cho đến khi dung dịch trở nên trắng như sữa. Cũng có thể thái mỏng nhân hạt, phơi khô, tán bột rồi hòa vào cốc rượu hoặc giấm. Ngày bôi nhiều lần dung dịch đó lên chỗ sưng đau cho đến khi khỏi . Có người còn dùng nhân hạt gấc sấy khô với vảy tê tê rang phồng (mỗi thứ 1 – 2g) tán bột, uống với ít rượu hâm nóng để chữa sốt rét có báng
4 – Hạt nhãn: Lấy hạt đem cạo sạch vỏ đen, thải mỏng, phơi khô, tán nhỏ mịn, đắp vào vết thương để cầm máu. Bột hạt nhãn phối hợp với phèn phi (lượng hai thứ bằng nhau) xoa ngày 2 lần chữa hôi nách. Hạt nhãn đốt cháy thành than, tán nhỏ, rắc vào chỗ đau chữa hở ngứa ở kẽ ngón chân, ngón tay. Đốt hạt nhãn khô để xông khói lại chữa chứng chảy nước mũi.
5 – Hạt chanh: Chữa ho lâu ngày: Hạt chanh (10g), hạt quất (10g), lá thạch xương bồ (10g), mật gà đen (1 cái) tất cả để tươi, giã nhỏ, thêm đường, hấp cơm, uống làm 2 – 3 lần trong ngày
-Chữa ho trẻ em: hạt chanh (10g), hoa đu đủ đực (15g), lá hẹ (15g), các dược liệu nghiền nát với 200ml nước, thêm mật ong hoặc đường kính, uống làm 3 lần trong ngày. Chữa rắn cắn: Hạt chanh (15 hạt), mướp đắng (10 hạt), rễ thạch xương bồ (12g), củ nấu (20g), muối ăn (vài hạt) dùng tươi, giã nhỏ, ngâm với 30ml nước sôi trong 10 phút, khuấy đều , chắt lọc. Người lớn uống làm 2 lần cách nhau 20 phút. Trẻ em dưới 15 tuổi uống 1/4 – 1/3 liều người lớn. Nếu là người bị nạn không uống được, dùng ống cao su để dẫn thuốc vào (kinh nghiệm của nhân dân ở xã Khánh Lâm, huyện Thới Bình, tỉnh Minh Hải)
Có thể chỉ dùng hạt chanh hoặc phối hợp với phèn chua 2g) và gừng (2g). Cách dùng như trên. Có người còn dùng hạt chanh làm thuốc tẩy giun
Hữu Bảo – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 18 (674) – 1996

Sự tiêu thụ quá mức vitamin A trong thời kì mang thai có nguy cơ gây dị tật ở trẻ sơ sinh

Keneth J.Rothman làm việc ở Trường đại học Boston (Mỹ) vừa công bố trên tờ New England journal of Medicine một đánh giá quan trọng: Có nguy cơ gây quái thai do tiêu thụ quá mức vitamin A ở phụ nữ trong thời kì mang thai. Công trình được thực hiện từ tháng 10 – 1984 đến tháng 6 – 1987 trên gần 22.748 sản phụ. Trong số 339 trẻ sơ sinh khác thường, có 121 trẻ phải chịu những dị tật đặc thù về thần kinh
Về nguyên nhân, các tác giả cho rằng: một phần do sử dụng những thức ăn có nhiều vitamin A, một phần do ăn bổ sung (Compliments diététiques). Theo tác giả, nếu hàng ngày tiêu thụ trên 15.000 đơn vị quốc tế vitamin A thì nguy cơ quái thai sẽ tăng gấp 3,5 lần so với phụ nữ chỉ tiêu thụ có dưới 5.000 đơn vị /ngày
Dị tật thường xuất hiện vào trước tuần lễ thứ bảy của thời kì mang thai nếu vào thời gian này, người mẹ dùng vitamin A với liều cao. Theo số liệu thống kê cứ 57 trẻ sinh ra, có một trẻ có nguy cơ dị tật nếu hàng ngày người mẹ tiêu thụ trên 10.000 đơn vị vitamin A bổ sung
Để ngăn ngừa biến cố này, ở Pháp, từ năm 1991 đã quy định với những thuốc có chứa rétinol (vitamin A1) thì không được dùng quá 5.000 đơn vị
Về vitamin A theo các chuyên gia, có thể quy định liều dùng với ngưỡng (seuil) gấp đôi như cầu tự nhiên (naturel) hàng ngày, ước tính từ 2.200 đến 3.300 đơn vị quốc tế vì thời kì thai nghén, trong chừng mực nhất định người phụ nữ có nhu cầu vitamin A hơn mức bình thường. Có tác giả khuyến cáo các bà mẹ mang thai hàng ngày nên dùng một chế phẩm có chứa 0,4 miligam acid folic và 8.000 đơn vị vitamin A
Một quyết định như vậy xem ra là phù hợp với một thực tế là sản phẩm “bỏ sung vitamin” Trái với lợi ích của sức khỏe cộng đồng vẫn được tự do đưa ra thị trường
Ngọc Bích – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 20 (676) – 1996

Bi kịch của một cô gái phát sáng ở Bình Định

Chúng tôi đến thăm gia đình cô Nguyễn Thị Ngà vào buổi sáng ngày 11 – 4 – 1996. Rất tiếc là không gặp được, cả cô Ngà và anh Cường (người chồng 22 tuổi) đều đi gặt lúa. Vợ chồng ông Đạng Thọ (cha mẹ chồng cô Ngà) tỏ ra hết sức dè dặt khi tiếp chúng tôi. Qua câu chuyện úp mở, chúng tôi được biết, trong nhận thức của vợ chồng ông Đặng Thọ, việc phát sáng của cô Ngà như một tai họa đối với gia đình. Vợ chồng ông coi đó là điều tủi hổ, là dấu hiệu của một căn bệnh có căn nguyên từ “cõi âm”. Tuy vậy, sau hơn một tiếng đồng hồ trò chuyện loanh quanh, chúng tôi cũng xác định được rằng hiện tượng cô Ngà phát sáng là có thật; và cô đang gặp phải bi kịch do tình trạng mê tín dị đoan của gia đình
Một tuần sau, ngày 18 – 4, chúng tôi cùng đi với anh Dũng và anh Tuấn, đồng Phó văn phòng Huyện ủy Hoài n đến thăm nhà cha mẹ đẻ của cô Ngà, ở cùng xóm, cách nhà ông Đặng Thọ một quãng đồng. Ông Nguyễn Chặm và bà Nguyện Thị Đây tỏ ra hết sức cởi mở khi kể về chuyện phát sáng của con gái mình. Ông Chặm cho biết cô Ngà sinh năm Bính Thìn, là đứa con áp út trong gia đình 6 người con của ông. Tháng 11 năm ngoái, ông gả Ngà cho Cường, 22 tuổi người cùng xóm. Sau đó một thời gian thì chuyện lạ này mới xảy ra. Khoi phải chỉ có gia đình mà đã có rất nhiều người trong thôn xóm đến xem cô Ngà tự phát sáng. Bà Đây thì quỷ quyết sự phát sáng này không thể đến từ áo quần. Chính bà và một số phụ nữ khác khi mặc áo quần cùng loại vải của cô Ngà, trong cùng một điều kiện ánh sáng như nhau đã dùng tay chà xát mạnh vẫn không thấy có hiện tượng phát sáng như Ngà. Ở tại gia đình mình, Ngà kể:
-Sau khi tổ chức lễ cưới chừng một tháng thì khoảng đầu tháng chạp, trong một đêm, khi thức giấc tôi chợt thấy trên thân thể mình, áo quần phát sáng – một thứ phát sáng lân tinh người ta vận thường thấy ở một số loài nấm phát ra vào ban đêm. Ngỡ bị dời leo, tôi ngồi dậy thắp đèn để bắt dời nhưng chẳng có con dời nào cả. Trong ánh sáng đèn, tôi không nhìn thấy ánh sáng trên áo quần của mình nữa, tắt đèn thì lại thấy áo quần phát sáng, đưa tay phủi nhẹ trên áo lại nghe thấy tiếng rẹc rẹc (giống như tiếng kêu của hai luồng điện chạm vào nhau), và phát ra tia lửa xanh lấp lánh như kim tuyến ở nhiều chỗ. Sau đêm đó, tôi không còn nhìn thấy sáng nữa. Mãi đến mùng 2 tết Bính Tý, hiện tượng trên lại tái diễn. Nhưng ánh sáng chỉ phát ra khi đụng vào quần áo. Hầu hết áo quần mà tôi mặc đều có thể phát sáng nhưng nếu mặc vải “ép” (một loại vải mỏng có pha nhiều nilon) thì ánh sáng phát ra mạnh hơn
Thấy hiện tượng lạ của cô con dâu, phía gia đình anh Cường tỏ ra hết sức lo lắng, mọi sự rủi ro của gia đình đều đổ vào cô con dâu bất hạnh. Mẹ và anh Cường cho rằng sở dĩ có hiện tượng trên là do cô Ngà đã làm lụng cho gia đình chồng trước ngày cưới. Tình cảm của hai bên suôi gia ngày càng thiếu mặn mà. Cả hai bên đã rước thầy cún về nhà cúng ếm nửa tháng liền nhưng bệnh phát sáng của cô Ngà vẫn không thuyên giảm
Từ ngày có hiện tượng phát sáng đến nay, cô Ngà bị ám ảnh bệnh hoạn nghiêm trọng, cùng với sự đối xử lạnh nhạt của gia đình chồng; khiến Ngà buồn lo và khóc lóc luôn. So với ngày chưa có hiện tượng trên, Ngà đã sút mất 5kg
Chúng tôi chưa được biết khoảng 1 – 1984, anh Trương Thương quê ở Triệu hải, Tỉnh Quảng Trị là sinh viên khoa toán của Trường đại học sư phạm Qui Nhơn cũng có hiện tượng phát sáng tương tự; song anh Thương chỉ có thể phát sáng với một chiếc áo và nếu người khác mặc chiếc áo này sẽ không thể phát sáng. Anh Thương được đưa đi khám và bác sĩ đã kết luận: “Sức khỏe không tốt nhưng cơ thể tích điện mạnh và có phát quang”. Kết luận này chưa phải đã là một kết luận khoa học chính thức nhưng hy vọng rằng phần nào đem lại sự bình tâm cho cô Ngà lúc này
Còn tìm đến một kết luận khoa học xác đáng đối với hiện tượng Nguyễn Thị Ngà là hết sức cần thiết để giúp xua tan những ám ảnh mang màu sắc mê tín dị đoan, và giúp cô Ngà thoát khỏi bi kịch, nhất là đứa bé mà công mang trong bụng đang rất cần sự thoải mái cả về thể chất lẫn tinh thần của người mẹ
Chúng tôi rất mong được các nhà khoa học sớm lưu tâm
Quang Khanh – Sức khỏe và đời sống – Bộ y tế – Hà Nội – Số 20 (676) – 1996

Ở chùa, đốt chùa

Việc ngịch mắt như thế thỉnh thoảng xảy ra. Tưởng đã cạn lời, không biết bình luận thế nào nữa; nhưng xưa nay, có những kẻ không những ở chùa rồi lại đốt chùa, mà tệ hơn, chúng chiếm luôn chùa làm tài sản riêng. Thậm chí, đứa vô ơn kia còn cướp mạng sống người nhà chùa – người từng cưu mang hắn.
Phi nhân tất chịu quả báo, hoặc bị phật thánh cao trừng phạt, hoặc bị luật pháp gang tấc phán xét, hoặc bị nơi nơi thế nhân nguyền rủa.
Cách đây không lâu, một thầy giáo dạy đại học nông nghiệp tại Hà Nội, bị một gã học trò cưng lừa gạt.
Gã đó được thầy phó thác thu xếp việc thanh toán tiền nong cùng giấy tờ về mảnh vườn của thầy. Máu tham nổi lên, gã manh tâm biến một phần điền thổ nhà thầy làm của mình. Tin học trò, mất vợ, xin lỗi, mất đất. Chuyện gây xôn xao. Và người ta ngao ngán: – Buồn thay lòng người, ôi thôi tín nghĩa!
Mới rồi, một thầy giáo là nhà vật lý nguyên tử bị giết ở Thành phố Hồ Chí Minh. Tên sát nhân vốn được thầy xem là thân cận. Hắn từng “cùng trời cuối đất” theo nhà giáo đó. Người thiệt mạng là thầy Phạm Khắc Chi, con trai của một nhân vật nổi danh là cụ nhân sĩ Phạm Khắc Hòe. Nghe đồn hắn giết thầy giáo Chi lại không phải để đoạt của. Chuyện gây xôn xao. Và người ta ngao ngán – Buồn thay lòng người, ôi thôi tín nghĩa!
Một thầy giáo truyền thụ kiến thức trong lĩnh vực tạo nguồn của cải nuôi dưỡng con người. Một thầy giáo hướng dẫn về một nguồn năng lượng cao siêu. Một người ngớ ra trước những chứng cớ ngụy tạo. Một người lìa hồn bởi sự hung đồ cuồng sát.
“Chọn bạn mà chơi”, lời khôn ngoan của người xưa còn đó, nhưng ở đời sao học hết chữ ngờ.
Có hiền triết đa cảm, suy diễn theo hướng u sầu, đã thốt lên khuyến cáo: “-Hãy cảnh giác!”. (Ý nói cảnh giác những người vốn từng tin cậy). Quả cũng thảm nhưng nếu phải thường trực sự cảnh giác vì cho rằng có thể những ai được mình đối tốt, biết đâu chẳng là đứa phản mình, thậm chí giết mình thì e nhân loại đã trở thành bầy quái vật. Nhờ trời đất, nhân luân vẫn tồn tại. Đừng thấy vài kẻ mất hết tính người mà vội hoài nghi hết thảy và hoảng sợ thu mình trong lô cốt, dòm dỏ thế nhân qua lỗ châu mai.
Kẻ làm điều độc địa sẽ kết cục nhãn tiền. Lưới trời lồng lộng thưa mà khó thoát, không chóng thì chầy, vẫn có người ra tay làm việc công bằng đó, muôn đời.
Nếu nhân bổn ác thì phải giáo dưỡng và sự nghiêm minh phải đối sách tăng dần cấp độ từ quở mắng đến trừng phạt. Kẻ không biết phục thiện thì chẳng thể để quá tam ba bận. Còn như đứa thậm ác, dù phạm tội một lần, chẳng thể nương tay.
Dẫu sao, cứ hồn nhiên và cởi mở, tin cậy cõi đời tin cậy con người. Nhân bổn thiện.
Ấm Trần – Báo Sức Khỏe & Đời Sống – Số 38 (746) – Năm thứ 36 – 1997