Bác Tôn qua một kỷ niệm – Phần 2

Chúng tôi vội lấy bảng ra viết chữ lên. Nhưng thật đáng tiếc, Cụ Chủ tịch lại đọc rất khó.
Cụ lắc đầu nói:
Không được, như thế không tự nhiên chút nào. Thôi, hãy để cho tôi chuẩn bị vài ba bũa nữa, tôi sẽ nói được.
Tôi sung sướng đồng ý. Như vậy tôi sẽ được gần gũi Chủ tịch.
Nếu không bận, trong mấy ngày tới mời đồng chí cứ ở lại bị cho tốt.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng nhìn tôi nói thân mật. Và lẽ tất nhiên, tôi đồng ý.
Ngay từ sớm hôm sau, tôi đã có mặt ở dinh thự của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Trong đầu tôi đang nảy ra một ý nghĩ, tôi sẽ phải thể hiện như thế nào cho nhân dân thấy được hình ảnh của Bác Tôn: đây là hình ảnh của một người công dân anh hùng năm 1919 đã phát cờ hiên ngang trên một chiếc tàu ở vịnh Bắc Hải?
Được Chủ tịch Tôn Đức Thắng tiếp chuyện, tôi hỏi về những ngày tháng hoạt động trước đây của Người. Đáp lại, Chủ tịch Tôn Đức Thắng lảng tránh sang chuyện khác. Thấy tôi cố gạn hỏi mãi. Chủ tịch nói:
Quá khứ của tôi ư? Tôi đã làm được gì đâu cho đồng bào. Nếu có chăng một chút ít công lao thì cũng không nên vin vào đấy mà kể mãi!
Lời Chủ tịch Tôn Đức Thắng nói làm tôi suy nghĩ mãi. Và cũng từ ngày ấy, tôi để ý quan sát Bác Tôn hàng ngày.
Buổi sáng nào cũng vậy, Chủ tịch Tôn Đức Thắng thường dậy lúc 5 giờ và tập thể dục. Người mặc quần áo sooc, áo lá (áo kiểu may ô nhưng may bằng vải), đi bách bộ khắp khoảng sân, vườn cây xanh tốt, hít căng ngực bầu không khí ban mai trong lành. Hôm trời mưa, người ôm chiếc chậu sứ dùng để rửa mặt đi khắp nhà thay cho ta. Sau khi tập thể dục xong, người rửa mặt. Tôi quan sát tỉ mỉ thấy người cho nước chảy đầu chậu rồi vặn khóa nước lại trước khi vò khăn mặt. Tính kiệm nước này anh Lập nói với tôi còn thấy ở Bác Hồ. Một buổi sáng năm 1962, khi anh đang tập thể dục thì nghe Bác gọi, anh quay lại, Bác vừa nói vừa chỉ tay vào đồng chí Kháng (tên Bác đặt cho):
Chú Lập, lại mà xem chú Kháng lãng phí nước này!
Nghe Bác phê bình thẳng thắn, đồng chí Kháng vội vã đóng ngay khóa nước đã chảy tràn lênh láng ra khỏi chậu lại…
Rửa mặt xong, Bác Tôn cạo râu. Vì đã thân thiết (được Bác gọi thân mật bằng thằng) nên tôi mạnh dạn đùa:
Sao Bác không để râu?
Bác Tôn ngừng cạo râu, quay lại, giọng đùa nhưng thật:
Bởi nước ta chỉ có Cụ Hồ là lãnh tụ thôi!
Thấy tôi băn khoăn không hiểu, Bác giải thích: Năm 1947, Bác Tôn cùng một đồng chí cán bộ đi công tác ở Võ Nhai. Trên đường đi, Bác gặp một đồng bào đã ùa ngay lại và xúm lấy đồng chí kia chào nhằm là Cụ Hồ. Té ra vì đồng chí ấy để râu. Đồng chí ấy càng cố thanh minh mãi thì đồng bào càng không tin, cho rằng vì công tác cách mạng nên mới phải bí mật…
Trong khi đang trò chuyện với tôi vui vẻ thế, bỗng ông quay ra phía sân kêu lên:
Chuân, đừng làm hỏng cái dũa!
Tôi ngoái đầu nhìn lại, té ra đồng chí Chuân giúp việc đang lấy cái dũa giũa vào một trục thiết trơn. Xuất thân vốn là một người thợ lành nghề nên chỉ nghe có tiếng dũa là Chủ tịch Tôn Đức Thắng biết anh Chuân đang làm sai. Khi đã lên đến tột đỉnh danh vọng. Chủ tịch Tôn Đức Thắng vẫn “thử” riêng cho mình một chiếc kim và búa riêng để có thể tự làm lấy nhiều việc…
Từ Khôi –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Bác Tôn qua một kỷ niệm – Phần 1

Mới sáng nắng cuối hạ, trời đã oi nồng. Tôi ngần ngại nhìn qua cửa sổ và nghĩ tới cuộc hẹn Tùng, người đang được nhiều người chắc tới với sự thành công của bộ phim tài liệu nổi tiếng Chiến xe tăng 390 năm ấy. Tôi lại bên chiếc máy điện thoại định nhắc lên xin hoãn cuộc họp, bỗng cửa mở, một giọng nói ấm vang nhưng trầm:
Tao đến với mày đây!
Tôi vội ngừng bấm số máy và quay lại, đạo diễn Việt Tùng đã ào vào trong phòng, tay vuốt vuốt khuôn mặt đẫm mồ hôi…
Không để tôi kịp mời, đạo diễn Việt Tùng đã kéo ghế ngồi xuống. Tính ông vốn tự nhiên, cởi mở dễ hòa nhập. Hồi mới quen, tôi không nghĩ mình lại được ông đạo diễn đáng tuổi cha chú mình cho “đánh bạn” vong niên. Ông hay kể cho tôi nghe nhiều kỷ niệm và nhất là các dự định làm phim sắp tới. Và hôm nay, ông hẹn sẽ tới gặp, kể cho tôi nghe kỷ niệm của ông trong những ngày sống ở nhà cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng để quay phim.
Sau khi uống xong chén nước chè, đợi tôi ngồi quay ngắn trước tập giấy ghi chép, ông kể, giọng hút dần:
Tôi còn nhớ in dịp chuẩn bị đón xuân năm Quý Sửu (1973), Đài truyền hình Việt Nam giao cho tôi được phép vào quay hình ảnh Cụ Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng chúc tết đồng bào, kết hợp việc chuẩn bị làm một bộ phim tài liệu về Người. Tôi rất vui bởi lẽ ước mong bao ngày đã thành sự thực. Trước đây vài tháng, khi tôi đi quay phim về Tổng bí thư Lê Duẩn, trông thấy tôi chạy tất bật tìm các góc độ, Tổng Bí thư gọi tới bảo:
Quay tôi nhiều làm gì. Để dành phim mà quay Bác Tôn xứng đáng hơn!…
Nghe Tổng Bí thư nói thế, các đồng chí có thẩm quyền sẵn sàng giúp đỡ tôi. Giám đốc Đài truyền hình Việt Nam – ông Huỳnh Văn Tiểng cũng tạo điều kiện giúp đỡ, trang bị cho tôi những máy móc tốt nhất của Đài.
Bước vào dinh thự của Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng số 35 trên đường Trần Phú, tôi đã quay. Sau khi chuẩn bị, Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngồi ở bàn với tư thế nghiêm trang và cúi xuống mặt bàn để đọc lời chúc tết. Và tôi bỗng loay hoay không thể quay được, bởi lẽ nếu Chủ tịch Tôn Đức Thắng giữ tư thế như thế, thì hình ảnh thu được của ống kính sẽ không đẹp (do mảng tóc đỉnh đầu hói vì tuổi tác). Tôi băn khoăn đê nghị:
Thưa Cụ Chủ tịch, Cụ có thể ngẩng đầu lên để cháu quay được không ạ. Như thế đồng bào sẽ thấy được Cụ rõ hơn!
Chủ tịch Tôn Đức Thẳng ngừng đọc, ngẩng lên nhìn tôi, nói chậm rãi:
Việc kíp, tôi chưa chuẩn bị được, phải đọc vì dạo này đầu tôi nhiều lúc hay quên.
Thấy tôi dạ nhưng vẫn đứng im, anh Lê Hữu Lập – Thư ký của Chủ tịch Tôn Đức Thắng lại gần, nói nhỏ:
Đồng chí thử xem có cách gì khắc phục được không?
Tôi lắc đầu, còn anh Lập thì nhíu mày suy nghĩ. Bỗng anh nói to, vui vẻ:
Thế này nhé, tôi sẽ viết chữ lên một tấm bảng ở phía máy quay. Cụ sẽ nhìn lên đọc và anh sẽ quay được ngay thôi!
Tôi à lên sung sướng trước sáng kiến của anh Lập. Tiếp xúc với anh, tôi thấy anh là con người hoạt bát, vui vẻ nhưng lại rất nghiêm túc trong công việc. Năm 1962, khi đang làm thư ký cho Bác Hồ thì anh được Bác tín nhiệm cho sang trợ giúp Chủ tịch Tôn Đức Thắng, vì thấy Chủ tịch vất vả. Chủ tịch Tôn Đức Thắng cảm động trước mối quan tâm của Bác Hồ, song ông cũng muốn tự mình làm lấy nhiều việc. Ông bảo anh Lê Hữu Lập: “Mỗi ngày tôi cần đồng chí 2 tiếng, thời gian còn lại đồng chí xem có giúp gì được cho Bác Hồ không”. Cho đến ngày hôm nay, khi tâm sự với tôi, anh Lê Hữu Lập nói mình vô cùng tự hào vì đã được phục vụ hai danh nhân lớn của đất nước.
Từ Khôi –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Bệnh tả

Bệnh tả là một bệnh truyền nhiệm do vibrio cholerae gây ra. Từ thế kỷ 19 đến nay đã có 7 đại dịch diễn ra trên hành tinh. Theo thống kê của WHO thì ở các đại dịch trước, căn nguyên gây bệnh chủ yếu là vibrio cholerae typ sinh học cổ điển. Nhưng từ đại dịch thứ 6 xuất hiện tuyp sinh học EITor và từ đó tỷ lệ mắc tả typsinh học EITor ngày càng tăng.
Vibrio cholerae bao gồm 60 nhóm huyết thanh nhưng chỉ có nhóm huyết thanh 01 là gây bệnh tả. Vibrio cholerae 01 gồm có 2 biotip: biotip kinh điển và biotip El Tor. Mỗi biotip lại gồm 2 tup huyết thanh: Ogawa và Inaba. Biotip El Tor cũng có thể gây nên một tỷ lệ những trường hợp nhiễm không có triệu chứng nhiều hơn biotyp kinh điển và tồn tại lâu dài hơn ở môi trường ngoại cảnh: Biotip El Tor có thể sống kết hợp với một số cây và động vật sống dưới nước, làm cho nước trở thành một kho tàng lưu trữ quan trọng gây nhiễm.
Dịch thường bùng nổ vào cuối mùa khô, đầu mùa mưa. Mỗi vụ dịch kéo dài khoảng từ 4 đến 8 tuần, số người mắc cao nhất vào tuần thứ 3 của vụ dịch. Những người bị bệnh tả là do ăn, uống phải một lượng gây nhiễm vi khuẩn tả (trong nước bị nhiễm ngay từ đầu nguồn hoặc trong quá trình dự trữ hay nước đá sản xuất từ nước bị nhiễm, hoặc là trực tiếp hay qua các thực phẩm. Thực phẩm bị nhiễm trong hay sau khi đun nấu, đo tay vấy bẩn của những người bị nhiễm. Hải sản bắt được ở những nơi ở nước bị nhiễm nấu không chín kỹ, rau quả được bón phân tươi hay là vẩy nước bị nhiễm và ăn sống.
Liều lượng vibrio cholerae 01 lần thiết để gây bệnh tùy thuộc vào tính nhạy cảm của từng cá thể. Vibrio cholerae 01 có thiết bị tác động của độ axit trong dạ dày và của tình trạng miễn dịch do trước đó đã nhiễm vibrio cholerae. Những trường hợp bị bệnh tả nhẹ, bệnh nhân chỉ tiêu chảy nhẹ. Còn trong những trường hợp nặng, bệnh nhân bị tiêu chảy tóe nước trầm trọng và nôn làm cho cơ thể bị mất nhiều dịch và điện giải, dẫn đến bệnh nhân khát nước, ngừng tiểu tiện và nhanh chóng trở nên suy kiệt do mất nước. Bệnh nhân bị tả nặng thường có triệu chứng chuột rút ở dạ dày và hai chi trên hay hai chi dưới. Tất cả các trường hợp bị tả đều phải được điều trị tức khắc. Nếu điều trị bị chậm trễ, bệnh nhân có thể nhanh chóng bị tử vong do mất nước và trụy tim mạch.
Để không mắc bệnh tả
Những biện pháp chắc chắn duy nhất trong việc phòng chống bệnh tả là cung cấp nước vệ sinh và đầy đủ, vệ sinh môi trường và đảm bảo an toàn thực phẩm. Ngoài ra có thể dùng vacxin tả để phòng bệnh.
Hiện nay có các loại vacxin tả sau: Vacxin tả sống giảm độc lực: Vacxin này có tính sinh miễn dịch cao ở những người lớn và trẻ em, tuy nhiên vacxin này không thích hợp với các nước đang phát triển vì giá thành cao và đòi hỏi chế độ bảo quản phức tạp.
Vacxin toàn tế bào đơn thuận (WC) hoặc kết hợp với tiểu đơn vị B của độc tố tả (BC – WC): cho tới nay là một vacxin tả tốt nhất vì hiệu lực của nó đã được khẳng định qua thử nghiệm trên thực địa diện rộng, nhưng lại có nhược điểm: hiệu lực bảo vệ thấp ở nhóm trẻ nhỏ và những người có nhóm máu O, đòi hỏi kinh phí lớn chi cho việc tinh chế tiểu đơn vị B và đòi hỏi phải đưa vào cơ thể một lượng lớn vì khuẩn tả bất hoạt.
Vacxin nhị liên hoàn tế bào bất hoạt do Viện vệ sinh dịch tễ sản xuất, được điều chế từ các chủng vi khuẩn tả thuộc típ sinh học cổ điển, El Tor và chủng mới 0.139. Là vacxin toàn thân vi khuẩn đã bất hoạt bởi formalin, vacxin này có chứa kháng nguyên đồng điều hòa độc tố.
Vacxin tả uống được dùng ở các địa phương có dịch tả lưu hành thường xuyên, sử dụng cho mọi lứa tuổi. Để tạo miễn dịch cơ bản cho trẻ em (từ 2 tuổi trở lên) và người lớn uống 2 liều cách nhau 14 ngày, mỗi lần 1,5 ml. Thường được tổ chức uống theo phương thức chiến dịch và trước mùa dịch hàng năm.
Đây là một vacxin an toàn và có tính sinh miễn dịch cao, sau khi uống chỉ có cảm giác buồn nôn nhẹ, còn các tác dụng phụ khác không đáng kể. Hiệu lực bảo vệ của vacxin 3 năm.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Công bố pháp lệnh về người tàn tật

Ngày 13/8, Văn phòng Chủ tịch nước đã tổ chức họp báo công bố Pháp lệnh về người tàn tật đã được Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 10 thông qua ngày 30/7/1998.
Pháp lệnh gồm có 8 chương, 35 điều, quy định trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và xã hội đối với người tàn tật (NTT); quyền và nghĩa vụ của người tàn tật. Người tàn tật được chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ nuôi dưỡng và được học văn hóa, học nghề và làm việc; được Nhà nước và xã hội điều kiện để phát huy các tiềm năng sáng tạo trên các mặt văn học, nghệ thuật, Khoa học kỹ thuật, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, sáng tác, biểu diễn, thi đấu phù hợp với sức khỏe và khả năng của mỗi người. Pháp lệnh cũng quy định những nội dung chủ yếu quản lý Nhà nước và trách nhiệm của các tổ chức hữu quan trong việc bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.
Pháp lệnh quy định lấy ngày 18/4 hàng ngày là Ngày bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.
Pháp lệnh quy định lấy ngày 18/4 hàng năm là Ngày bảo vệ, chăm sóc người tàn tật.
Hội nghị giao ban phòng chống sốt rét khu vực miền Trung – Tây Nguyên
Hội nghị được tổ chức tại thị xã Pleiku (Gia Lai) vào ngày 04/8 vừa qua do Phó giáo sư. Phó tiến sĩ Lê Ngọc Trọng – Thứ trưởng Bộ y tế chủ trì.
Tham dự Hội nghị có gần 150 đại biểu của Bộ y tế, Viện sốt rét – KST – CT Hà Nội. Phân viện SR – KST – CT Quy Nhơn, Cục quân y, Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở y tế các tỉnh có tỉ lệ bệnh sốt rét (SR) gia tăng, lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện và trung tâm y tế các huyện có tình hình sốt rét tăng cao, và 14 trung tâm (trạm) SR – KST – CT các tỉnh trong khu vực miền Trung – Tây Nguyên. Đặc biệt Hội nghị có mời đại diện các tổ chức y tế quốc tế từng quan tâm gắn bó với mục tiêu phòng chống sốt rét ở Việt Nam (WHO, MCNV, AUSAIDS…).
Hội nghị đã thảo luận sôi nổi xung quanh những nguyên nhân khách quan và chủ quan khiến sốt rét gia tăng trở lại khu vực miền Trung – Tây Nguyên trong 6 tháng đầu năm 1998 và bàn những biện pháp tích cực nhằm ngăn chặn và đẩy lùi sự gia tăng của sốt rét trong thời gian tới.
Tổng kết hội nghị, Thứ trưởng Bộ y tế đã nhấn mạnh những biện pháp cấp bách nhằm đạt được mục tiêu phòng chống sốt rét 6 tháng cuối năm 1998 “phấn đấu giữ các chỉ số sốt rét không cao hơn năm 1997”.
Từ Tấn Thứ – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Cấp cứu tai nạn điện giật

Hiện nay mạng lưới điện của ta đã trải rộng khắp nước, số người sử dụng và tiếp xúc với điện rất nhiều, việc đề phòng tai nạn điện giật rất quan trọng, nhất là trong mùa mưa bão.
Mùa này ở nước ta là mùa giông bố, bão lụt. Giông bão, mưa to, gió lớn, sét đánh thường làm đổ cây cối, nhà cửa, đứt dây điện, đổ cột điện nên nguy cơ gây tai nạn điện giật càng lớn. Ngoài ra, do mưa nhiều gây ngập lụt, độ ẩm của không khí cao làm tăng khả năng dẫn điện của môi trường và hạn chế hiệu lực của những thiết bị cách điện, cũng làm tăng nguy cơ bị điện giật.
Tác hại của dòng điện đối với cơ thể rất lớn.
Tại chỗ nó gây bỏng điện. Diện tích vết bỏng tùy theo cường độ của dòng điện, điện trở của cơ thể và thời gian tiếp xúc với dòng điện. Nếu tay chân khô ráo, quần áo khô, điện trở của cơ thể sẽ lớn, vết bỏng sẽ nhỏ và nông, còn nếu ướt tình trạng chỗ bỏng sẽ nặng hơn nhiều.
Nhưng điều nguy hiểm chết người là do tác hại của dòng điện đến toàn thân. Nạn nhân bất tỉnh ngay, da tái nhợt, mất trí giác, thở rất yếu hoặc ngừng thở do liệt các cơ hô hấp và liên sườn. Mạch nhỏ yếu, huyết áp hạ, có khi không bắt được mạch, nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ chết do rung tâm thất và liệt hô hấp.
Cấp cứu người bị điện giật tại chỗ.
Điện giật là một tai nạn cực kỳ nguy hiểm, làm chết người rất nhanh, đòi hỏi phải cấp cứu thật khẩn trương ngay tại chỗ. Kinh nghiệm cho thấy nếu nạn nhân được cấp cứu kịp thời trước 6 phút (kể từ lúc bị điện giật) và đúng phương pháp, tỷ lệ sống có thể tới 90%. Nếu cấp cứu sau 6 phút, tỷ lệ được cứu sống chỉ khoảng 10%. Như vậy, trong cấp cứu điện giật, sớm muộn vài phút có ý nghĩa quyết định.
Khẩn trương làm các động tác cấp cứu sau đây:
Tách ngay người bị nạn ra khỏi nguồn điện. Nếu gần đấy có cầu dao, cầu chì, công tắc phải tắt ngay, hoặc dùng cuốc, dao có cán gỗ khô chặt đứt ngay dây điện.
Trường hợp không ngắt được mạch điện, người cứu chữa phải tìm cách để nhanh chóng kéo nạn nhân ra khỏi nguồn điện. Nên phải chú ý dùng các biện pháp cách điện, như đứng lên bàn ghế nhớ là người đến cứu phải đi găng tay, ủng cao su, hoặc đứng trên bàn ghế khô để trasnah bị điện giật.
Hà hơi thổi ngạt và xoa bóp tim ngoài lồng ngực.
Sau khi nhanh chóng tách nạn nhân ra khỏi nguồn điện, nếu nạn nhân ra khỏi nguồn điện, nếu nạn nhân bất tỉnh nhưng hô hấp và tuần hoàn vẫn hoạt động, phải nới rộng quần áo, đặt nằm ở nơi yên tĩnh, thoáng gió.
Trường hợp đã ngừng tim, ngừng thở phải tiến hành hà hơi thổi ngạt kết hợp với xoa bốp tim ngoài lồng ngực ngay. Làm công việc này nếu có hai người thi tốt, một người hà hơi thổi ngạt, một người xoa bóp tim ngoài lồng ngực.
Nếu chỉ có một người cấp cứu, phải thay đổi liên tiếp xoa bóp tim và hà hơi thổi ngạt, cứ 4 lần xoa bóp tim lại một lần hà hơi thổi ngạt, làm kiên trì cho đến khi tim nạn nhân đập trở lại và thổi thở được.
Báo ngay cho cơ sở cấp cứu, điều trị gần nhất để tiếp tục làm các biện pháp cứu chữa cần thiết, như tiêm các thuốc trợ tim mạch, chống rung tim, chống sốc, v.v…
Đề phòng bị điện giật
Để đề phòng tai nạn điện giật, mọi người đều phải chấp hành tốt những nội quy an toàn về điện khi sử dụng, tiếp xúc với điện trong sản xuất, sinh hoạt hàng ngày.
Trước và trong mùa mưa bão, các cơ sở sản xuất, gia đình, tập thể cần kiểm tra hệ thống đường dây điện và những thiết bị cách điện, chống sét, nếu thấy chưa đảm bảo an toàn phải sửa chữa ngay.
Đối với hệ thống dây tải điện, cần tổ chức gia cố các cột điện, trạm biến thế, chặt bớt những cây, cành có thể đổ, gãy làm đứt dây điện. Quy hoạch lại mạng lưới điện thế để khi có bão lớn hoặc khi xảy ra sự cố có thể ngắt điện kịp thời.
Khi xảy ra sự cố, nhất là đứt các đường dây tải điện cao thế, phải có biển báo và hàng rào cách điểm dây điện chạm mặt đất ít nhất là 20 mét để bảo đảm an toàn cho người qua lại.
BS. Kim Minh –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Hội thảo quốc gia về quản lý tiền chất tại Việt Nam

Thực hiện chỉ thị của Phó chủ tướng Chính phủ – Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng chống ma túy Việt Nam (UBQGPCMTVN) tại Thông báo số 150/TB ngày 19/12/1997 văn phòng Chính phủ và Chương trình hợp tác về kiểm soát ma túy giữa UBDCP và Ủy ban Quốc gia phòng chống ma túy Việt Nam, Bộ y tế với trách nhiệm Chủ nhiệm dự án kiểm soát Tiền chất tiểu vùng AD/RAS/96/B36 tại Việt Nam đã chủ trì hội thảo Quốc gia về “các biện pháp chống thất thoát Tiền chất từ các hoạt động thương mại hợp pháp “tổ chức tại Hà Nội từ ngày 23 – 26/6/1998 với sự tham gia của Đại diện dự án UNDCP – AD/RAS/96/B36, đại diện UNDCP tại Hà Nội, văn phòng Ủy ban Quốc gia phòng chống ma túy Việt Nam. Bộ y tế, Bộ công nghiệp, Bộ khoa học công nghệ môi trường, Bộ công an Tổng cục Hải quan và Ủy ban dân tộc miền núi.
Hội thảo nhận định về tình hình quản lý Tiền chất tại Việt Nam thời gian qua và đặc biệt nhấn mạnh vị trí, tầm quan trọng về quản lý Tiền chất trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu cáp bách của công tác phòng chống hiểm họa ma túy tại Việt Nam, khu vực và thế giới.
Hội thảo thống nhất các khuyến nghị về các biện pháp chống thất thoát Tiền chất từ các hoạt động thương mại hợp pháp để kính chuyển lên Chủ tịch Ủy ban Quốc gia phòng chống ma túy Việt Nam, cán bộ, ngành liên quan và UNDCP nhằm thúc đẩy khẩn trương công tác quản lý Tiền chất tại Việt Nam, kiến nghị các giải pháp cho lĩnh vực này.
Họp báo về an toàn và kiểm soát bức xạ
Ngày 31 – 7, Bộ khoa học công nghệ và môi trường đã tổ chức họp báo giới thiệu Nghị định 50/1998/NĐ – CP ngày 16 – 7 – 1998 quy định chi tiết việc thi hành Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ (KSBX).
Nghị định gồm 7 chương, 49 điều gồm các quy định chi tiết về trách nhiệm đảm bảo an toàn bức xạ của người quản lý cơ sở, trách nhiệm giải quyết sự cố bức xạ; khai báo cấp giấy đăng ký và cấp giấy phép; thanh tra kiểm tra An toàn bức xạ; quản lý nhà nước về an toàn và kiểm soát bức xạ.
Các quy định về an toàn trong sử dụng bức xạ ion hóa, quản lý và xử lý chất thải phóng xạ, bảo đảm an toàn bức xạ trong y tế, vận chuyển chất phóng xạ… sẽ được Bộ khoa học công nghệ và môi trường – cơ quan quản lý Nhà nước và an toàn kiểm soát bức xạ hướng dẫn cụ thể.
PV – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Gặp gỡ diễn viên sân khấu Hồng Hạnh

Nghệ thuật không phải là phù du
Thật ra xem Hạnh diễn kịch nhiều nhưng tôi vẫn ấn tượng với vai Hương trong phim “Ngọt ngào và man trá”. Còn bên ngoài khi tiếp xúc với em, tôi bị cuốn hút bởi đôi mắt to sáng rạng rỡ, cách nói nhanh và trẻ trung. Gặp được Hạnh cũng rất khó vì em rất bận: đi biểu diễn, đi học (Hạnh đang là sinh viên năm thứ tư Đại học Ngoại thương), rồi dẫn chương trình. Hành trang của cô bé sinh năm 1975 này quả là dáng nể. Nhưng khi trò chuyện với em tôi nhận ra nỗi đam mê nghiệp diễn ẩn đằng sau cái vẻ bề ngoài tinh nghịch và vô tư.
Như vậy, có thể nghĩ rằng ánh đèn sân khấu luôn luôn cuốn hút và đam mê?
Chị biết không, cùng lớp diễn viên kịch nói của Hạnh hồi ấy, bây giờ chỉ còn Hạnh và một vài bạn trụ lại thôi. Những người ta khỏi vầng hào quang sân khấu bây giờ đều thành đạt và giàu có rồi. Gặp lại nhau, các bạn ấy tiếc sân khấu lắm nhưng “đành lòng vậy cầm lòng vậy”. Dù sao Hạnh cũng luôn an ủi mình dù thế nào đi căng nữa Hạnh cũng thấy hạnh phút khi những tràng vỗ tay và những bó hao tươi thắm của khán giả dành cho mình sau đêm diễn (cười). Nghe có lãng mạn quá không hả chị. Nhưng mà chị đấy, hóa thân vào những cảnh đòi khác nhau, được đối thoại với nhân vật như được đối thoại với khán giả và với chính mình. Quả thật, ánh đèn sân khấu cuốn hút và đam mê.
Nhưng hình như với điện ảnh cũng vậy phải không? Em cũng chạm ngõ với điện ảnh từ Ngọt ngào và man trá rồi còn gì?
Em vào phim từ hồi bé tí tẹo cơ, mới 5 tuổi đã xa bố mẹ theo đoàn làm phim Đàn chim trở về. Khi còn đang học lớp diễn viên của Nhà hát tuổi trẻ em may mắn được mời vào một vài vai nữa. Nhưng em chưa ưng một vai nào cả, có lẽ thành công của em còn ở thời tương lai. Nhớ mãi hồi được đóng chung với anh Lê Công trong phim Ngọt ngào và man trá. Anh ấy là một diễn viên thực sự tài năng. Bây giờ em luôn nghĩ thầm Hãy vì người xem, vì nghệ thuật khi vào một vai diễn nào đấy. Điều đó em học được ở anh Lê Công đấy.
Sau một số phim truyền hình mà Hạnh đã tham gia như Cha tôi và hai người đàn bà, Con chim lạc đàn, Mùa đông không lạnh giá, Hạnh đã tham gia phim nào chưa?
Em vừa hoàn thành hai vai trong bộ phim mới của đạo diễn Nhật Bản, đó là vai bà mẹ và cô con gái trong phim Đôi mắt. Đây là một thử thách lớn của em vì phải đóng cảnh bị điên và đau đẻ… Thế nhưng vì được đóng chung với anh Trần Lực nên được anh động viên và hướng dẫn rất nhiều. Thành công ư? Em hoàn toàn chờ sự phán quyết của khán giả.
Bố em, nghệ sĩ Quốc Toàn có ý kiến gì khi xem cô con gái cưng đóng kịch hoặc phim không?
Chị có tin không, rất ít khi “cụ” xem em đóng cả. Có lẽ “cụ” muốn rèn cho con mình tính tự lập. Bố em bảo đó là điều quan trọng nhất của người làm nghệ thuật.
Hình như em ít tự bằng lòng về mình phải không? Thế còn ước mơ? Em dành riêng cho nghệ thuật mơ ước gì?
Đó là một vai diễn để đời chị ạ. Một vai diễn còn mãi với thời gian.
Đó không chỉ là ước mơ của riêng Hồng Hạnh, mà là của bất cứ diễn viên nào khi “can đảm” bước trên con đường nghệ thuật. Với cô diễn viên trẻ trung luôn bận rộn và nhiều đam mê này chắc một vai diễn như vậy không phải quá xa vời.
Minh Tâm –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nhân kỷ niệm lần thứ 51 ngày Thương binh lietj sĩ 27 – 7

Theo dấu chân những người đồng nghiệp xưa
13 giờ 30 phút ngày 9 – 7 – 1965, sau nhiều ngày bay trinh sát, máy bay Mỹ, lần đầu tiên ném bom xuống đất Yên Bái. Và cũng lần đầu tiên này, chúng ném xuống bom tấn xuống khu vực ty y tế, trường trung học y tế, Bệnh viện tỉnh Yên Bái làm 54 người chết, trong đó có 50 người là bác sĩ, y sĩ, cán bộ giảng dạy và học sinh y sĩ, y tá.
Họp chết ngay ở nơi đang làm việc, trong lúc đang chuẩn bị đi làm nhiệm vụ cấp cứu phòng không theo kế hoạch của lãnh đạo ty y tế lúc đó. Kế hoạch này được ghi rõ trong công văn số 441/YT do Trưởng Ty y tế ký ngày 28 tháng 6 năm 1965 và đã báo cáo Ủy ban hành chính tỉnh Yên Bái cùng ngày (nghĩa là trước ngày Mỹ ném bom 11 ngày). Cũng xin được nói rõ là trước đó gần một năm, từ ngày 15 – 8 – 1964 sau sự kiện vịnh bắc Bộ đến ngày 18 – 6 – 1965, y tế đã có 05 công ăn với kế hoạch tương tự để báo cáo UBHC tỉnh. Theo kế hoạch, đến ngày 9 – 7 – 1965, tại Bệnh viện tỉnh chỉ còn lực lượng thường trực để làm nhiệm vụ cấp cứu, tải thương, và phục vụ các điểm nóng trong thị xã và vùng phụ cận. 50 người chết nói trên thuộc lực lượng này.
Nhưng từ ngày đó đến nay, bản thân họ và thân nhân gia đình những người đã mất chưa được hưởng chính sách, chế độ gì. Chúng tôi cũng hiểu sự chậm trễ này do nhiều lý do: trong hơn 30 năm qua lãnh đạo Ty y tế (nay là Sở) đã thay đổi 9 lần; Tỉnh ủy, Ủy ban cũng đã qua nhiều khóa; tỉnh Yên Bái lại sáp nhập và Nghĩa Lộ, Lao Cai thành đơn vị hành chính mới là tỉnh Hoàng Liên Sơn; rồi chiến tranh biên giới phía bắc và nhiều biến động khác…
Nhưng dù là lý do gì thì sự việc từng ấy năm qua chưa được giải quyết vẫn là nỗi dây dứt, trăn trở với thân nhân, gia đình và những người đồng nghiệp chúng tôi. Trong dịp kỷ niệm 50 năm Ngày thương binh liệt sĩ (năm 1997), những người trong Ban liên lạc các cán bộ y tế đã từng công tác ở Yên Bái nay đang ở Hà Nội đã họp nhau lại và kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái xem xét, giải quyết (cùng với các đơn thư của nhiều gia đình những người đã chết trong trận giặc Mỹ ném bom 9 – 7 – 1965).
Nhận được kiến nghị, Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái đã giao trách nhiệm cho Sở y tế giải quyết. Tại phiên họp ngày 15 – 7 – 1997, do bác sĩ Phạm Thanh Tâm, giám đốc Sở y tế Yên Bái chủ trì, với sự tham gia của đại diện các cơ quan chức năng có liên quan và nhiều nhân chứng đang sống ở Yên Bái đã xác nhận số cán bộ y tế nói trên đã chết trong lúc làm nhiệm vụ.
Trong một cuộc làm việc mới đây, ngày 22 – 7 – 1998 với sự tham gia của Giám đốc Sở y tế Phạm Thanh Tâm, đại diện Ủy ban nhân dân tỉnh, Tỉnh ủy, Sở lao động – Thương binh xã hội tỉnh Yên Bái và nhiều nhân chứng khác cùng với đoàn cán bộ ở Hà Nội lên cùng thống nhất là 50 người chết do bom đạn Mỹ ngày 9 – 7 – 1965 tại khu vực Ty y tế Yên Bái nói trên là chết trong lúc thi hành nhiệm vụ.
Trong tâm trạng bùi ngùi xúc động với tinh thần nghiêm túc, khẩn trương và trách nhiệm, đồng chí Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đã giao nhiệm vụ cho bác sĩ Phạm Thanh Tâm, giám đốc Sở y tế và Sở Lao động thương binh xã hội khẩn trương tập hợp đầy đủ các cứ liệu, hồ sơ liên quan để trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, giải quyết.
Hy vọng một ngày không xa, sự việc trên sẽ được xem xét và giải quyết một cách thỏa đáng, đúng với những quy định hiện hành của Nhà nước.
Những nhân chứng sống chúng tôi, những người đồng nghiệp của những người đã khuất đã và đang cố gắng đóng góp phần mình để công việc được triển khai nhanh chóng và thuận lợi.
Bác sĩ Nguyễn Bá Phiên – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Thuốc dành cho trẻ em

Hơn bao giờ hết, lúc này các hãng dược phẩm đang hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình vào đối tượng trẻ em, trong đó thuốc cổ truyền phương Đông dành cho trẻ em tăng 28% so với năm 1997. Các nhà sản xuất và nghiên cứu thuốc của Hoa kỳ cho hay hiện có 187 loại thuốc dành cho trẻ em đang được thử nghiệm hoặc chờ chính phủ cho phép. Trong số này có một thuốc chữa ung thư não, một vacxin chống viêm tai giữa ở trẻ em và một số thuốc phòng ngừa bệnh cúm dưới dạng bình xịt mũi thay cho loại tiêm.
Các thử nghiệm nhằm đánh giá hiệu lực của vacxin gây miễn dịch ở trẻ em chống llaij streptocous pneumoniae (một thủ phạm gây viêm phổi, viêm tai giữa và viêm màng não ở trẻ em) hiện đang được các nhà khoa học của Trường đại học tổng hợp ở Maryland thực hiện.
Mô hình thử nghiệm thuốc tim mạch
Từ trước đến nay khi thử các loại thuốc điều trị các bệnh tim mạch người ta thường sử dụng các loại tim cô lập như tim ếch chẳng hạn. Việc đó vừa tốn kém vừa không được chính xác bằng dùng ngay trên tim người, nhưng để thí nghiệm trên cả một quả tim người cô lập thì hầu như không thể thực hiện được. Gần đây một ê kíp các nhà khoa học thuộc Trường đại học Johns Hopkins thuộc thành phố Baltimore của tiểu bang Maryland (Mỹ) đã nghĩ ra một mô hình toán học trong đó thu nhập tất cả các dẫn liệu về hoạt động của các tế bào tim người và cài đặt trong phần mềm của máy vi tính. Như vậy, khi các loại thuốc nào đó được tiến hành thử trên mô hình mới này thì các thông số về tác dụng dược lý của nó sẽ được biểu hiện dưới dạng ngôn ngữ đã được mã hóa bằng hình ảnh của trái tim. Chẳng hạn như khi các vùng trên quả tim mô hình hiện lên màu xanh thì chứng tỏ là các tế bào tim ở vùng đó đang ở trạng thái hoạt động, còn màu đỏ là chúng đang ở trạng thái nghỉ ngơi. Trên màn hình máy vi tính còn hiện lên các sóng điện tìm giúp cho các nhà nghiên cứu xác định được nhịp hoạt động của các tế bào cũng như sự dẫn truyền của thần kinh tim.
Lễ ký kết dự án VIE/97/P10 chu kỳ V
Được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ, sau hơn một năm chuẩn bị, sáng 25/8/98 Bộ y tế đã tổ chức lễ ký kết tiếp nhận Dự án “Tăng cường năng lực cho Bộ y tế để quản lý chương trình sức khỏe sinh sản (SKSS)” do UNFPA hỗ trợ trong chu kỳ V (1997 – 2000) trị giá 2.462.374 USD. Dự lễ ký kết về phía Việt Nam có PGS Lê Ngọc Trọng – Thứ trưởng Bộ y tế, Vụ BMTE/KHHGĐ, các cục vụ có liên quan; về phía quốc tế có ông Erick Palstra – đại diện UNFPA tại Hà Nội và các cán bộ của Văn phòng UNFPA.
Trong những năm qua, chương trình Kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam – một nội dung của sức khỏe sinh sản đã được những kết quả đáng kể: việc sử dụng các biện pháp Kế hoạch hóa gia đình đã tăng từ 53% năm 1988 lên 63% năm 1996; tỷ lệ sinh đã giảm từ 3,8 con/ phụ nữ năm 1989 xuống còn 2,69 năm 1996.
Tuy nhiên, hiện nay tại các điểm cung cấp dịch vụ y tế nói chung và dịch vụ Sức khỏe sinh sản/ Kế hoạch hóa gia đình nói riêng các vấn đề chất lượng dịch vụ, khả năng tiếp cận cũng như sự lựa chọn vẫn còn bị hạn chế. Việc đa dạng hóa các biện pháp tránh thai vẫn còn ít thay đổi, chủ yếu vẫn dùng vòng tránh thai. Ngoài ra còn nhiều vấn đề sức khỏe sinh sản cần được giải quyết kịp thời như tỷ lệ các bệnh lây lan qua đường tình dục, các viêm nhiễm đường sinh sản và việc tăng nhanh HIV/ AIDS, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em, tỷ lệ chết mẹ, tỷ lệ nạo phá thai ở các thiếu nữ trẻ còn cao.
Kiều Khắc Đôn – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Đồng tâm trong ước tính và dự báo nhiễm STD/ HIV/ AIDS

Điều đáng lo ngại hiện nay là dịch HIV/ AIDS có chiều hướng lan rộng ra cộng đồng, vào các nhóm nguy cơ thấp, và tăng nhiều ở lứa tuổi trẻ.
Tính đến ngày 13 – 8 – 1998, đã có 9941 trường hợp nhiễm HIV ở 59 trong số 61 tỉnh, thành phố được báo cáo; trong đó có 1231 trường hợp đã phát triển thành AIDS và 670 người đã chết. Đó chỉ là phần nổi của tảng băng chìm căn bệnh thế kỷ. Còn số thực là bao nhiêu, hiện tượng tăng đột biến ở nơi này hay thấp ở nơi khác nói lên điều gì về bức tranh AIDS ở Việt Nam? E rằng không thể chính xác nếu bên cạnh hệ thống giám sát dịch tễ học không có, hoặc không chú ý đến mức hệ thống giám sát hành vi tình trạng nhiễm STDs/ HIV/ AIDS của cộng đồng (STDs là chữ viết tắt của các bệnh lây truyền qua đường tình dục bằng tiếng Anh). Đây cũng là những vấn đề được nhiều nhà khoa học quan tâm và được thảo luận sôi nổi tại cuộc hội thảo đồng tâm về ước tính và dự báo nhiễm STD/ HIV/ AIDS do Bộ y tế và WHO phối hợp tổ chức mới đây (21 – 8 – 1998) tại Hà Nội.
Tại cuộc họp này, các vị lãnh đọa Ban Phóng chống AIDS Bộ y tế, UBQGPC AIDS, các giáo sư trưởng các tiểu ban chuyên môn vệ sinh dịch tễ học, da liễu, lâm sàng, các bệnh nhiệt đới, huyết học – truyền máu, bảo vệ bà mẹ – trẻ sơ sinh, nhi, lao bệnh phổi; đại diện của các viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang, Tây Nguyên, Viện vệ sinh dịch tễ học quân đội, Bệnh viện da liễu thành phố Hồ Chí Minh; các chuyên viên về STD/ HIV/ AIDS của Quảng Ninh, Đà Nẵng, Huế; đại diện các tổ chức quốc tế WHO, UNAIDS, UNICEF, WB và nhiều đồng nghiệp quốc tế cho rằng việc ước tính được tổng số người mắc bệnh, số ca mắc mới HIV/ AIDS là rất khó, và chưa nước nào có được giải pháp hoàn hảo. Do đó cần có sự đồng tâm nhất trí trong việc lựa chọn phương pháp, đối tượng trọng điểm giám sát (như nhóm tiêm chích ma túy, tân binh, bệnh nhân lao…), cỡ mẫu, đưa ra được những tiêu chí, những chuẩn mực để đánh giá đúng thực trạng, xu hướng, đối tượng gia tăng; ước tính được số nhiễm STD/ HIV/ AIDS hiện nay. Từ đó dự báo được chính sách, lập các chương trình can thiệp, đưa ra các khuyến nghị và tạo nguồn lực.
Nhân bản vô tính dòng động vật có vú từ các tế bào trưởng thành
Tại New York các nhà nghiên cứu ở Honolulu đã làm được một điều mà nhiều nhà khoa học nghĩ rằng không thể làm được, đó là nhân bản đơn dòng nhiều lần một loài chuột trưởng thành bằng kỹ thuật nhân bản tế bào mới.
Kỹ thuật đơn dòng trước đây đã được một số nhà khoa học sử dụng để tạo ra chú cừa “Dolly” bằng cách phối hợp một tế bào với một tế bào khác, nhưng khả năng thành công rất thấp còn kỹ thuật mới này có tỷ lệ thành công cao hơn, vào khoảng 3%. Theo các nhà khoa học thì điều quan trọng của kỹ thuật mới này là thực nghiệm ở chuột. Nhân bản đơn dòng ở chuột là cực kỳ quan trọng bởi chu kỳ sinh sản của chuột nhanh. Họ đã nhân bản được 5 thế hệ từ cùng một dòng tế bào, các thế hệ chuột nhân bản đều khỏe mạnh và có khả năng sinh sản. Từ thành công trên các nhà nghiên cứu cho rằng: kỹ thuật này có thể áp dụng để nhân bản các loại động vật có vú khác như lợn và cừu.
Động vật được nhân bản vô tính có thể được sử dụng để nghiên cứu về gen học và phôi học để giúp nghiên cứu hiểu biết hơn nữa về tế bào và các hoạt động phân tử liên quan đến quá trình lão hóa và các bệnh như ung thư, AIDS, đái đường, xơ cứng. Khám phá này có thể được sử dụng để giúp loài người đấu tranh với bệnh tật, tạo nên các cơ quan dùng ghép tạng người từ những loài động vật được lựa chọn gen.
BT – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998