Thủ đô văn hóa châu Âu 1998

Sau bảy năm xa cách, tôi gặp lại Stockholm, thủ đô Thụy Điển, vào đầu thu, khi những cây bu – lô yếu chịu rét đã lốm đốm vàng. Vẫn như năm xưa, mặc dù kinh tế có khó khăn hơn, thành phố mang sắc thái một đô thị thanh lịch và thanh bình với quảng trường trung tâm Sergel đối diện năm tòa cao ốc bóng nhoãng kính và thép, những hàng xe hơi nối đuôi nhau bật đèn giữa ban ngày, những khách bộ hành đi trên vỉa hè với thái độ thoải mái, khu “thành phố cổ” Gamla Stan là một nơi tập trung những công trình kiến trúc cổ kính như lâu đài nhà văn, nhà Quốc hội, nhà thờ cổ, bến đỗ tàu thuyền và xuồng thể thao (cả nước có đến hơn nửa triệu chiếc).
Các bạn Thụy Điển phàn nàn với tôi là mùa hè năm nay tồi tệ quá, vì ít nắng, ít nóng, chỉ được một vài ngày thật sự là ngày hè: đó là điều thất vọng lớn đối với người dân một thành phố âm u gió lạnh, ngày đông chỉ có sáu tiếng đồng hồ có ánh mặt trời.
Vinh quang lớn của Stockholm năm nay là được mang vương miện Thủ đô văn hóa châu Âu 1998. Năm 1984, Thủ đô Hy Lạp Athens lần đầu tiên được phong danh hiệu này do sáng kiến của Bộ trưởng văn hóa Hy Lạp là nữ nghệ sĩ Melina Mercoun. Từ đó, các Bộ trưởng văn hóa các nước Liên hiệp châu Âu mỗi năm lại tặng danh hiệu đó cho Thủ đô một nước châu Âu.
Quyết định ngày 13 tháng năm 1985 nói rõ: “Chương trình này phải thể hiện một nền văn hóa trong hình thành lịch sử và phát triển đương đại, được đặt trưng bởi cả những yếu tố chung lẫn sự phong phú bắt nguồn từ đa dạng… Sự thật hiện chương trình phải giới thiệu cho công chúng châu Âu, những sắc thái đặc biệt của đô thị ấy, của vùng ấy và của nước ấy”.
Năm 1993, có quyết định chọn Stockholm làm thủ đô văn hóa châu Âu 1998 vì nhiều lý do. Đó là trung tâm nền văn hóa biển Baltique, nơi gặp gỡ Đông Âu và Tây Âu, Bắc Âu và Nam Âu, do đó có đóng góp vào nghệ thuật châu Âu. Thành lập cách đây 700 năm, nó luôn luôn gắn liền với các nền văn hóa khác ở châu Âu. Sinh hoạt văn hóa của Stockholm sôi nổi. Phong cảnh Stockholm đẹp tuyệt vời: thành phố bồng bềnh trên nước, tỏa ra 124 hòn đảo nối liền nhau bằng năm chục cây cầu, có cả một vùng quần đảo với hàng nghìn đảo nhỏ, chỗ nào cũng có cây xanh, cỏ xanh, công viên, lâu đài và nhà ở cổ kính hoặc hiện đại.
Để xứng đáng với danh hiệu Thủ đô ’98 châu u, Stockholm tổ chức trong bốn mùa hàng nghìn hoạt động văn hóa, không những để tự giới thiệu với khách nước ngoài, mà còn muốn nhân dịp này đẩy mạnh và cách tân văn hóa của chính mình và đất nước mình. Thành phố có đủ cơ sở vật chất để thực hiện chương trình khổng lồ này. Có 70 rạp hát, con số cao nhất của một thành phố châu Âu (tính theo đầu người), có trên 50 Viện bảo tàng và 110 thư viện (dân số thành phố, 1 triệu người).
Tôi đến Stockholm vào tháng chín, khi hoạt động “Thủ đô 1998” tập trung vào hai chủ đề: nghệ thuật nhiếp ảnh và đô thị: “Festival nhiếp ảnh tháng chín” (Xposeptember) là một sự kiện nghệ thuật bao gồm nhiều cuộc hội thảo, tập huấn, thuyết trình và hơn 40 cuộc triển lãm: “Đô thị” là đề tài quán xuyến năm 1998, nhưng “bùng nổ” vào tháng chín. Nhiều viện bảo tàng phân công nhau tổ chức những cuộc triển lãm về đề tài chung là Đô thị – Thiên đàng và địa ngục. Cuộc triển lãm giật gân nhất có lẽ là Memento Metropolis (Ký ức siêu đô thị). Tất cả những đề tài thể hiện theo hình thức installation (sắp xếp, dàn dựng) gợi cảm giác xa lạ, vô lý, phi nhân tính, tuyệt vọng của con người sống động trong đô thị hiện đại. Đó là một sự cảnh tỉnh!
Hưởng ứng sự kiện Thủ đô văn hóa châu u 1998, Tổ chức phát triển quốc tế của Thụy Điển (Sida) đã mời độ năm chục kiến trúc sư, chuyên gia quy hoạch thành phố, nhà khảo cổ, nhà khoa học xã hội (thuộc Trung Đông, châu Á, Mỹ la tinh, châu Phi, Trung Âu) tham gia cuộc Hội thảo quốc tế về Đô thị – truyền thông địa phương và số phận toàn cầu Ý đồ xuất phát từ mối quan tâm đến di sản văn hóa trong sự phát triển tương lai. Đoàn Việt Nam chúng tôi (5 người) nhấn mạnh về việc bảo vệ khu phố cổ Hà Nội và học hỏi được nhiều về kinh nghiệm các bạn quốc tế. Rồi Stockholm, một lần nữa, tôi thấy rõ tính ưu việt của văn hóa đô thị Stockholm.
Thụy Điển 9 – 1998
Hữu Ngọc – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Sợ thật

Bác đã biết chuyện ở Hải Dương mà báo chí vừa nêu chưa?
Ông Ba Toác cầm tờ báo trên tay và hỏi Phiếm tôi.
Lại chuyện tiêu cực? Thôi, biết lắm chỉ buồn thêm – Phiếm tôi lơ đăng.
Ông Ba Toác dường như không để ý vấn hươ hươ tờ báo:
Chuyện là thế này: Tháng 8 năm ngoái, Hải Dương sau khi tách tỉnh đang cần thêm một Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Có 4 ứng cử viên trong đó có 2 ông là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố và Trưởng phòng kiểm sát xét xử Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh. Ông Giang là Viện trưởng ở Thành phố Hải Dương sai phó của mình thuê người điệu ông Bình là Trưởng phòng của Viện tỉnh vào quán karaoke mãi ở Hải Phòng rồi chuốc thuốc mê, thuốc ngủ hay thuốc kích dục gì đó để ông Bình như nhộng bên cô gái điếm và chụp ảnh. Ảnh và thư nặc danh sau đó được gửi lên trên…
Đồng nghiệp với nhau mà gài bẫy đến thế kia ư? Nhưng làm sao mà biết được.
Công an ta tài tình và vất vả lắm mới dò ra bắt đầu từ một nhân viên khách sạn ở Hà Nội, tên là Hùng…
Tưởng ai mời ông Bình đi thì ông ấy phải biết chứ?
Thì tên Hùng này đóng vai môi giới giả vờ có bạn là bị can trong vụ trọng án đến nhờ ông Bình giúp đỡ rồi mời tới quán karaoke ở Hải Phòng mới có 3 bức ảnh để nộp cấp trên chứ.
Tên Giang này nguy hiểm thật. May mà mưu gian bị lộ chứ hắn được cất nhắc lên chức Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thì còn thế nào! Sợ thật.
Thế nhưng một trưởng phòng kiểm sát xét xử của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh không quen biết người đến nhờ mình mà dám theo họ vào quán karaoke tận Hải Phòng nên nổi bị gài bẫy thì cũng đáng sợ thật.
Sợ quá đi chứ. Ông Bình là nạn nhân của ông Giang nhưng còn bao nạn nhân của ông Bình nếu ông dễ tính theo người môi giới đi nhậu như thế. Không biết với chức trưởng phòng kiểm soát xét xử thôi, ông ấy đã bao nhiêu lần đi theo người nhờ giúp đỡ như thế.
Ba Toác nửa cười nửa mếu:
Cũng may họ đánh nhau mình chỗ hỏng của cháu chứ nếu tạm bằng lòng với sự sắp xếp hoặc liên kết với nhau thì sợ đến thế nào.
Ừ, sợ thật.
Nhân loại bàn về đạo đức
Hãy đi đi, đừng để cho chỉ có một ý nghĩ ngự trị trong tâm hồn anh rằng: chân lý, đó là điều anh đó, và không có gì khác. Những người tự nghĩ chỉ có mình là có lý và có những ý tưởng hoặc những từ xa lạ với mọi người. Những người đó, hãy mổ bụng họ ra: anh sẽ thấy trong họ chỉ là cái trống rỗng. Với một người, ngay cả đối với một nhà hiền triết, mãi mãi học tập không có gì là xấu hổ cả.
Sophocle, Hy Lạp. 441 trước công nguyên
Biện pháp duy nhất để mang lại hòa bình cho mọi người là phá bỏ những giáo điều chia rẽ họ, và khôi phục lại chân lý thống nhất họ; đó mới thực là nền hòa bình vĩnh cửu. Nền hòa bình này không hề là một ảo tưởng; nó tồn tại trong tất cả những người lương thiện, từ Trung Quốc đến Quebec.
Voltaire, 1765
Kẻ nào muốn sử dụng thanh kiếm của Trời thì bản thân cũng phải lành mạnh và nghiêm khắc. Cần tìm thấy trong bản thân một mẫu mực, đánh giá những tội lỗi của mình cũng như khi đánh giá tội lỗi của người khác. Thật nhục nhã cho kẻ nào xử tội chết cho những lỗi lầm mà bản thân mình cũng hầu như phạm phải.
Shakespeare
Chừng nào mà chúng ta để mất nền tảng đạo đức thì chúng ta cũng không còn là người có đạo. Tôn giáo không thể lật ngược và cũng không thể thay thế đạo đức. Chẳng hạn một người không thể sống trong sự dối trá, độc ác, xa hoa mà đồng thời lại tự cho rằng mình có Trời ở trong lòng.
Mahatma Gandhi. 1869 – 1948. Ấn Độ
Bác ái là lượng bao dung, bác ái là lòng hỉ xả; lòng bác ái không ghen ghét đố kỵ, không huênh hoang vênh váo; lòng bác ái không làm điều gì trái phép, không vụ lợi, không oán giận, không chấp nhặt điều xấu; lòng bác ái đau khổ trước nỗi bất công, chỉ tìm niềm vui trong chân lý. Lòng bác ái hy vọng tất cả, tha thứ tất cả và chịu đựng tất cả.
(Sách Tân Ước)
Tôi mơ ước, một thế giới ở đó con người không miệt thị con người, ở đó tình yêu ngự trị trên trái đất, ở đó hòa bình tô điểm những nẻo đường đi. Tôi mơ ước một thế giới mà mọi người đều tự để con đường tự do dẫn dắt, ở đó trái tim không bị những dục vọng giằng xé, lòng tham lam không che phủ ánh mặt trời. Tôi mơ ước một thế giới, ở đó người da trắng hay da đen, bất luận thuộc chủng tộc nào, sẽ cùng chia sẻ những ân sủng của trái đất, ở đó mọi người đều tự do, và sự cùng khổ phải cúi đầu, và niềm vui như một viên ngọc quy dâng đầy những lời nguyện cầu của nhân loại. Đó chính là thế giới mà tôi mơ ước.
GS.TS Đình Quang –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nữ tiến sĩ y học

Mặc cho cái rét đậm của tháng chạp lan phủ khắp nơi, mới 8 giờ sáng, Hội trường Viện vệ sinh dịch tễ đã đông chặt các vị giáo sư trong ngành y – dược, các chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước cùng đông đảo đồng nghiệp, bạn bè của nữ tiến sĩ Thu Vân tới dự lễ bảo vệ luận án tiến sĩ của chị. Công trình “Nghiên cứu sản xuất vacxin viêm gan B điều chế từ huyết tương người Việt Nam” dày gần 1000 trang đã mang lại danh hiệu cho Thu Vân – nữ tiến sĩ y học đầu tiên bảo vệ thành công luận án trong nước. Công trình của chị Thu Vân đã chinh phục không chỉ Hội đồng giám khảo về tính khả thi và hiệu quả của đề tài với con số sát nút 14/15 mà còn khiến đông đảo những người tham dự khâm phục. Thành viên Hội đồng giám khảo đã nhất trí dành điểm 10 cho bản luận án, công nhận tác giả Nguyễn Thu Vân, Viện vệ sinh dịch tễ là tiến sĩ khoa hcoj, chuyên ngành vi rút học.
Từ những lần đi thực tế và các vùng nông thôn, miền núi cũng như đến bệnh viện các tỉnh, thành phố trong cả nước, Thu Vân luôn bị ám ảnh bởi hình ảnh những người mắc bệnh viêm gan giai đoạn cuối: bụng trướng, chứa đầy dịch, nước da vàng như nghệ… Hầu hết người bệnh đều đi đến cái chết trong sự “cách ly” bắt buộc đối với người thân vì nỗi “khiếp sợ” lây lan. Vậy mà ở nước ta có khoảng 15 – 26% người nhiễm viên gan B; trong số trẻ em đang điều trị tại các bệnh viện cũng tới 31,16% trẻ em mắc viêm gan B. Điều này đã thúc giục Thu Vân mầy mò nghiên cứu, sản xuất vac – xin viêm gan B.
Năm 1969, Thu Vân là một trong số những học sinh ưu tú được cử sang Liên Xô học tập. Chị đã không “chọn” theo học các ngành cơ bản như hóa, lý, toán… mà học chuyên ngành sinh hóa tại Trường đại học tổng hợp Acmenia, một ngành khoa học tương đối mới ở nước ta, Thu Vân về nước và được phân công về công tác tại Viện vệ sinh dịch tễ. Đây là một trung tâm nghiên cứu và sản xuất vacxin lớn nhất nước ta, đồng thời còn là nơi tập trung những người thầy tài ba, tâm huyết như giáo sư – tiến sĩ Hoàng Thủy Nguyên, Đặng Đức Trạch, Hoàng Thủy Long… Chính những người thầy này đã giúp Thu Vân định hướng nghiên cứu và phát triển tài năng. Năm 1991, Thu Vân đã bảo vệ thành công luận án phó tiến sĩ trong nước về đề tài “Tinh khiết kháng nguyên bề mặt (HBsAg) của vi rút viêm gan B, cho việc điều chế bộ sinh phẩm chẩn đoán viêm gan trong huyết thanh và huyết tương người”. Bộ chế phẩm của Thu Vân đã giúp các bác sĩ bệnh viện, nhất là tuyến huyện sớm phát hiện người bệnh viên gam ở địa phương; được sử dụng trong nghiên cứu, điều tra dịch tễ học (trong điều kiện bộ sinh phẩm chẩn đoán viêm gan B lúc đó rất khan hiếm và đắt). Trong 4 năm (từ năm 1993 – 1996) Thu Vân cùng các đồng nghiệp Viện vệ sinh dịch tễ nghiên cứu và sản xuất thử gần 1 triệu liều vacxin viêm gan B và đưa vào phục vụ tiêm phòng ở các tỉnh phía Bắc. Kết quả khả quan ban đầu (chưa có trường hợp nào bị phản ứng phụ) đã tăng thêm lòng tự tin và quyết tâm cho Thu Vân và các đồng nghiệp. Vác xin phòng chống viêm gan B sản xuất tại Viện vệ sinh dịch tễ qua kiểm định, đã được đánh giá là loại thuốc có chất lượng tương đương với vac xin nhập của Nhật, Mỹ, Cu Ba, Bỉ… mà giá thành chỉ bằng 1/5 lần so với vác xin ngoại nhập. Đầu năm 1996, Nguyễn Thu Vân đã được Hội liên hiệp khoa học kỹ thuật và Bộ giáo dục – đào tạo trao tặng Giải thưởng “VIFOTEC” cho đề tài nguyên cứu cấp Nhà nước “Ky0101 – công nghệ và hiệu quả của bộ sinh phẩm chẩn đoán HBsAg và vac xin viêm gan B”.
Thành công của đề tài phó tiến sĩ, cũng như hiệu quả sản xuất và ứng dụng “thử nghiệm” thành công của vac xin viêm gan B đã giúp Nguyễn Thu Vân vững vàng tự tin thực hiện “ước mơ”, sản xuất đại trà vacxin viêm gan B thay thế thuốc ngoại nhập. Niềm vui đã đến với chị tháng 12/1996, Thu Vân là người phụ nữ đầu tiên của ngành bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học trong nước về đề tài sản xuất vac xin viêm gan B mà chị và các đồng nghiệp hằng ấp ủ bấy lâu. Cũng trong năm đó Dự án sản xuất vacxin viêm gan B của Thu Vân – Viện vệ sinh dịch tễ (do giáo sư Hoàng Thủy Long chủ nhiệm đề tài) được Nhà nước cho phép triển khải sản xuất trên quy mô lớn. Hàng ngàn liều vac xin viêm gan B cùng vac xin viêm não Nhật Bản, vac xin tả (uống)… của Viện vệ sinh dịch tễ Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định đưa vào Chương trình tiêm chủng mở rộng phục vụ trẻ em.
Trong buổi lễ nhận bằng tiến sĩ khoa học, các đồng nghiệp đã chúc mừng chị đạt được những thành công trên con đường khoa học chông gai nhưng đầy vẻ vang. Trong niềm vui tột cùng, chị đã xúc động và trìu mến nhắc đến người chồng và hai cô con gái, nguồn động viên, khích lệ lớn lao giúp chị yên tâm dành trí lực cho sự nghiệp khoa học.
Nguyễn Thị Thúy – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nhìn lại giải vô địch xe đạp toàn quốc 1998

Từ 4 đến 10/10/1998 , giải quan trọng nhất của Bộ môn xe đạp Thể thao đã được tổ chức tại Hà Nội, Hà Tây và Hòa Bình. Sau một thời gian dài, giải vô địch toàn quốc được tổ chức tại khu vực phía Nam, năm nay LĐXĐ đã quyết định chuyển địa bàn thi đấu ra phía Bắc với mục đích động viên, phát triển phong trào. Về dự giải này có gần 100 vận động viên (VĐV) ở 20 địa phương trong cả nước, nhiều vận động viên đang là thành viên của đội tuyển quốc gia. Ngay tại nội dung thi đấu đầu tiên: 25,500 km tính điểm nữ và 46 km tính điểm nam đã có nhiều bất ngờ diễn ra làm đảo lộn những nhận định của giới chuyên môn. Trong cự ly nữ, nếu như sức trẻ của Thanh Tân (An Giang) đã giúp cho vận động viên này vượt qua được nhiều tay đua đàn chị để giành huy chương bạc thì kinh nghiệm thi đấu vẫn luôn là một yếu tố quan trọng để Nguyễn Thị Nhanh (Thành phố Hồ Chí Minh) bứt phá ở chặng cuối giành Huy chương vàng duy nhất cho đoàn Thành phố Hồ Chí Minh . Ở cự ly của nam, một “hiện tượng” mới đã xuất hiện đó là Vũ Hải Minh của Hà Nội khi vận động viên trẻ này bất ngờ lập kỳ tích giành Huy chương vàng trước các đối thủ vốn rất mạnh trong nội dung này như: Nguyễn Thành Quyết (KSTB)… Với địa điểm tổ chức thi đấu trên chặng đường từ Xuân Mai đi Sơn Tây, chất lượng đường đua khá tốt nhưng do bị ảnh hưởng của thời tiết có mưa nên đường trơn. Vì vậy một số Vận động viên đã không đạt được hết phong độ vốn có của mình. Một lần nữa nữ vận động viên Thanh Tân (An Giang), người xuất phát đầu tiên đã vượt lên 11 tay đua để giành Huy chương vàng với thành tích 32 phút 02 giây 15. Với 40 km tính giờ cá nhân của nam, 28 tay đua vào cuộc rất quyết liệt bởi trình độ của các Vận động viên nam tương đối đồng đều. Người giữ Huy chương vàng tại giải 97 là Ngô Quốc Tiến (An Giang) đã phải nhưỡng ngôi vô địch cho Mai Công Hiếu (ĐT) khi Vận động viên này lập thành tích 58 phút 03 giây 53 (tốc độ trung bình 42km/giờ); Hấp dẫn hơn cả là ở nội dung thi đấu đường trường, với lộ trình từ Hà Tây đi Hòa Bình dài 168 km của nam và 80 km của nữ. Đây thực sự là cuộc thử thách về thể lực, kỹ thuật và sử dụng chiến thuật của các Vận động viên, sau hơn 20 km đoàn đua đã bắt đầu bứt tốp. 7 tay đua gồm các Vận động viên của quân khu 7, Cảng Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội… hình thành tốp dẫn đầu, được nửa chặng đường, tốp đầu đã bỏ cách tốp sau gần 5 km. Ở những km cuối cùng trước khi về đích tại tượng đài Bác Hồ ở thị xã Hòa Bình là cả một thử thách đối với các vận động viên khi phải đối mặt với độ dốc liên tục. Trong tốp 7 vận động viên dẫn đầu, một lần nữa vận động viên Vũ Hải Minh (Hà Nội) lại tỏ ra rất xuất sắc về nhất giành Huy chương vàng và đoạt 2 giải thưởng dành cho vận động viên về đích ở 50 km đầu tiên 168 km chung cuộc. Đường đua 80 km của nữ có phần dễ dàng hơn khi họ chỉ phải chạy trên đoạn đường khá tốt, ít độ dốc. Nữ Vận động viên Mộng Hà (An Giang) đã lần lượt loại bỏ các đối thủ của mình để thoát về đích đầu tiên bỏ xa người về thứ 2 với thời gian gần 5 phút. Nội dung thi đấu cuối cùng của giải là đua địa hình, đây là lần đầu tiên nội dung này được đưa vào thi đấu tại giải vô địch toàn quốc. Trong nội dung này, đoàn Vận động viên của An Giang đã chứng tỏ họ không có đối thủ bằng việc giành trọn 2 Huy chương vàng của cả nam và nữ đồng thời đoạt cả 3 ngôi vị đầu của nam. Giải vô địch xe đạp toàn quốc của các Vận động viên trẻ. Đây là một tín hiệu đáng mừng cho môn xe đạp nước ta, thành tích của các Vận động viên đạt được về chuyên môn khá cao so với thành tích của các vận động viên ở khu vực Đông Nam Á. Việc vận động viên Vũ Hải Minh (Hà Nội) giành 2 Huy chương vàng cũng khẳng định vị trí của các tay đua Hà Nội đã có những tiến bộ đáng kể sau một thời gian tập trung đầu tư. Qua giải lần này, nhiều gương mặt mới đã tạo ra được sự chú ý của giới chuyên môn và đây sẽ là đội ngũ vận động viên có nhiều triển vọng của đội dự tuyển quốc gia chuẩn bị cho các giải thi đấu quốc tế sắp tới.
Thanh Bình – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Thi hành án tử hình Khánh “trắng”

Sau bản án xử phúc thẩm Khánh “trắng” về tội giết người, cướp tài sản công dân, che giấu tội phạm… với mức án tử hình đã lâu nhưng chưa được thi hành, khiến dư luận có người thắc mắc. Do công tác điều tra nhiều vụ liên quan khác nên việc thi hành án được lui lại. 6 giờ sáng ngày 13 – 10 – 1998, tại trường bắn Cầu Ngà (Từ Liêm, Hà Nội), Hội đồng thi hành án thành phố Hà Nội đã bắt Khánh “trắng” đền tội theo quyết định của lương tri và công lý. Cùng chấp nhận việc thi hành án với Khánh “trắng” còn có Nguyễn Tiến Thắng (tức Thắng “trố”) can tội giết người mà Sức khỏe và Đời sống đã có lần đưa tin.
Sức khỏe và đời sống đây
Báo sức khỏe đời sống rất cần cho bạn đọc về kiến thức chữa bệnh song vì hiện nay báo các loại có nhiều mà lương nhân viên y tế có hạn. Báo ngành có thể cung cấp thêm những thông tin xã hội nổi cộm hiện nay để bạn đọc vừa nắm được thông tin y tế, vừa nắm được những chuyện của các ngành khác mà rút kinh nghiệm cho mình?
Bác sĩ Phạm Tấn Phúc (Phú Thọ)
Hoan nghênh ý kiến góp ý của bạn. Chuyện các ngành khác nổi cộm gần đây là chuyện của vài kẻ hám tiền, hám danh. Chỉ xin đơn cử một ngành để ngành ta rút kinh nghiệm. Vụ xét xử trùm buôn lậu ma túy Hà Tý Tồ (Nguyễn Ngọc Phụ) vừa qua mới lòi ra mặt một người đẹp Ngô Ngân Hoa là cán bộ Tòa án nhân dân TC có lần vào Quảng Trị chạy tội cho Nguyễn Khánh Lộc bị bắt quả tang mang 13 bánh Hê rô in (nhưng không kết quả và vẫn bị tuyên án tử hình, trước giờ hành quyết mới khai ra Phụ để không phải thi hành án lúc đó). Điều lạ là “người đẹp” được mời đến làm “nhân chứng” với vòng ngọc, nhẫn bạch kim, đồng hồ toàn loại đắt tiền (lương cán bộ sao sắm được?) và chỉ bị đề nghị cơ quan chủ quản xử lý hành chính! Ở Hải Dương, ông Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố vì muốn leo lên chức Phó viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh mà bày mưu đầu độc thuốc mê đồng nghiệp (cũng là ứng cử viên chức vụ này) rồi cởi bỏ áo quần đặt bên cạnh gái mại dâm và chụp ảnh. Ảnh được gửi đi cùng thư nặc danh tới cấp trên. Cuối cùng, cháy nhà mới ra mặt kẻ chủ mưu mại dâm kế. Ở Nha Trang, ông Phạm Hưởng là thẩm phán Tòa án nhân dân Thành phố được phân công ngồi ghế xử một vụ đánh nhau vào ngày 2 – 10 – 98 nhưng lại gạ gia đình bị cáo hối lộ. Tối 6 – 10 – 98 thẩm phán Hưởng vừa nhận tiền tại nhà thì bị cảnh sát ập vào bắt quả tang. Xem ra chuyện vòi vĩnh đòi hối lộ làm hại đồng nghiệp bằng mưu gian không phải duy nhất có ở những vụ trên. Tham nhũng mới đây có vụ Ngô Văn Vị sinh năm 1952, nguyên là Giám đốc công ty Sứ Hải Dương cất nhắc cô thư ký kiêm người tình kém 21 tuổi Vũ Nguyễn Minh Anh làm trợ lý rồi đôi tình nhân này thả cửa đi “tham quan” nước ngoài bằng tiền chùa. Họ nhập cả dây chuyền Sản xuất lạc hậu của nước ngoài (tất nhiên được đối tác tặng quà) chỉ có Nhà nước chịu thiệt và Cán bộ công nhân trong công ty bị khốn khó.
Cháu chơi thân với H, hoàn toàn trong sáng nhưng bố mẹ cháu cứ sợ vào yêu đương. Không lẽ tự dưng lại không chơi với nhau nữa mà vẫn bình thường thì mang tiếng không nghe lời, Cháu khổ quá.
Nguyễn Văn Xuân (16 tuổi, Hải Phòng)
Tuổi của cháu cần có nhu cầu bạn bè trao đổi, giúp nhau học tập. Bố mẹ cháu lo cũng không phải vô lý nhưng lo vô cớ thì khác nào chưa đau bụng đã uống thuốc. Tuy nhiên, cháu cần xem lại chuyện quan hệ này có ảnh hưởng tới học tập không, không gặp được H. cháu có bồn chồn không thiết làm gì không? Tự cháu cần tìm ra lời giải để tháo gỡ nỗi khổ trong mình.
Chúng em yêu nhau đã 4 năm nay nhưng chỉ vì không có nhà riêng nên không thể tiến tới hôn nhân. Thuê nhà phải 200 nghìn/ tháng mà lương bác sĩ mới ra trường như em…
Quả là khó trả lời. Xin bạn đọc có cách giải quyết nào tặng đôi bạn trẻ.
PV –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Quy luật của con người

Đời người thật ngắn ngủi so với thời gian vĩnh hằng. Từ thuở ấu thơ trên môi, rồi cắp sách tới trường, qua những ngày trưởng thành với bao vật lộn thử thách của cuộc đời, cho đến tuổi trung niên – cái tuổi có thể tạm chững lại. Khi đó bạn mới chợt thấy mình “bắt đầu cao tuổi là bắt đầu mệt mỏi”. Và bạn nhận ra rằng: “Cơn gió thời gian lướt trên tuổi đời vội vã”.
Già là quy luật sinh lý không thể cưỡng nổi của sinh vật trong đó có con người. Tuy nhiên, tuổi thọ trung bình ở mỗi quốc gia có sự khác nhau. Nhưng dấu hiệu sinh tâm lý sau đây sẽ giúp bạn điều chỉnh nhịp sinh học nhằm giúp bạn “cản trở” bớt sự chống già của tuổi tác.
Tuổi 40: có lẽ ai cũng nhận ra mình già từ đôi mắt. Chúng bắt đầu gặp trở ngại khi nhìn tập trung trên trang sách báo và những vật thể ở gần. Tay ta cầm quyển sách, báo đã phải điều chỉnh một lúc rồi đưa ra xa một ít. Điều đó cho thấy thủy tinh thể đã bắt đầu dày lên (gọi là hiện tượng viễn thị). Tai trong cũng bắt đầu có sự thay đổi làm thính giác suy giảm. Với đàn ông khả năng suy thính giác nhanh gấp đôi phụ nữ. Chiều cao cơ thể cũng bắt đầu “co” lại 0,16 cm và tiếp tục 0,16 cm/ năm. Lý do: Biến đổi tư thế và đặc biệt là xương cột sống bắt đầu nén lại. So với tuổi 30 việc đốt năng lượng đã giảm 120 calo/ ngày.
Tuổi 50: Mắt kém nhạy cảm với sự tương phản, trong bóng tối chỉ nhìn thấy lờ mờ và bị lóa khi ra ánh sáng, không nhìn rõ vật thể di động.
Đây là thời kỳ mãn kinh của phụ nữ, kết thúc sinh nở và estrogen giảm thấp đẩy nhanh tốc độ làm tăng nguy cơ bệnh tim mạch. Tuổi này sức lực suy giảm rõ rệt vì cơ teo dần lại. Bạn cảm thấy sợ việc và bắt đầu lười hoạt động. Cũng tuổi này thường xuất hiện các bệnh đặc biệt có nguy cơ ung thư vì có thể mất dần khả năng kháng thể, thường dễ nhiễm khuẩn. Tuyến ức giữ vai trò chủ đạo hệ miễn dịch đã mất 90 – 95%.
Tuổi 60: Cái tuổi lên “bà” lên “ông”. Việc nói chuyện, đi lại đã khó khăn hơn. Đặc biệt ở các ông, thính giác tần số cao suy giảm rõ rệt. Khớp các tứ chi bắt đầu cứng, đặc biệt là vào buổi sáng ở khớp đầu gối, hông và cột sống. Nguyên nhân do sụn lão hóa làm các đầu xương bị vva chạm.
Tụy tạng, nơi xử lý glucse hoạt động kém hiệu quả. Mức đường trong máu tăng cao (loại khởi phát ở người cao tuổi). Ở tuổi này có nhiều người mắc bệnh đái đường.
Tuổi 70: Phản ứng với tiếng động lớn và kích thích khác chậm hơn, khả năng truyền đạt thông tin của não kém. Hơn 50% cụ ông có triệu chứng bệnh tim mạch. Huyết áp tăng 20 – 25% so với tuổi 20; thành động mạch dày lên và cứng. Tuyến mồ hôi hầu như ngừng hoạt động, dễ tăng nguy cơ say nắng ở cả cụ ông và cụ bà và thận lúc này vốn đã yếu lại phải làm việc một mình.
Tuổi 80: Các khớp xương hầu nhưng khô cứng, đặc biệt là cụ bà rất dễ té ngã và dễ vỡ xương hông. Tuổi này các cụ bà giảm hơn 50% khối lượng xương hông và xương đùi, do vậy thường yếu hon các cụ ông. Hầu như 50% người trên tuổi 85 có triệu chứng Alzheimer. Tim là nơi cung cấp máu cho cơ thể, nhịp đập chậm 25% so với tuổi 20. Nhưng lại mở rộng và bơm nhiều máu hơn sau mỗi nhịp. Điều đó cũng dễ làm cho tuần hoàn thất thường. Dẫu sao ở tuổi “nhân sinh thất thập cổ lai hy” này phải cũng đã làm cho bạn cảm thấy phiền hà về cuộc sống. Điều kỳ lạ là cá tính hình như là bản chất. Một thanh niên 30 tuổi cáu gắt hay nóng nảy thì đến năm 90 tuổi sẽ là một cụ già cũng cáu gắt, nóng nảy vô cớ.
Ngày nay, trong thời đại văn minh, nền khoa học hiện đại có thể nâng dần tuổi thọ con người vì cuộc sống no đủ về mọi mặt hơn. Tuy nhiên, cũng không đúng cho tất cả mọi nơi, mọi người. Già là quy luật của cuộc sống, nhưng dẫu sao chúng ta có thể làm “chậm lại”, tất nhiên không phải chỉ là quần áo, son phấn hay mỹ viện… Mà có được chăng chỉ là sự tạo ra một cuộc sống đầy đủ, điều độ về ăn uống, tinh thần và sự tập luyện… Những buổi tập thể dục, chơi thể thao, dưỡng sinh sẽ làm cho tuổi già nhanh nhẹn, khỏe mạnh và minh mẫn hơn chính nó.
Nga Nguyệt –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Liệu có chuyện vô trách nhiệm

LTS: Xung quanh trường hợp bệnh nhân Phạm Thị Liệu (được điều trị tại Viện Tai – Mũi – Họng từ ngày 22/8 đến ngày 30/8/1998 tử vong đang có nhiều ý kiến trái ngược nhau về trách nhiệm của các thầy thuốc ở đây! Vậy thực hư thế nào? Để giúp độc giả tiếp cận với sự thật, sức khỏe đời sống xin giới thiệu bài điều tra dưới đây.
Sáng 30/8/1998 ngày thứ 9 nằm điều trị tại khoa B7, Viện Tai – Mũi – Họng (TMH), sau khi được y tá tiêm thuốc theo y lệnh, bệnh nhân (BN) Phạm Thị Liệu lâm vào tình trạng khó thở, suy hô hấp cấp. Các thầy thuốc ở đây đã áp dụng các biện pháp cấp cứu cần thiết và kịp thời nhưng Bệnh nhân vẫn tử vong. Xung quanh vấn đề này có ý kiến cho rằng các thầy thuốc thiếu tinh thần trách nhiệm; một số người khác thì có ý kiến này, ý kiến nọ về nguyên nhân tử vong!
Theo bệnh án số 8027 thì Bệnh nhân Phạm Thị Liệu, 28 tuổi, quê thị xã Lạng Sơn, bị khó thở từ 4 năm trước, từng được điều trị tại Bệnh viện nội tiết nhưng không đỡ. Bốn tháng trước đây bệnh nhân đã đến khám tại Viện Tai mũi họng, được chẩn đoán là bướu tuyến giáp chèn ép khí quản. Sau đó, ngày 7/7/1998, Bệnh nhân Liệu đã được phẫu thuật cắt bướu tại khoa ngoại. Viện quân y 108. Nhưng hơn một tháng sau khi mổ bướu, Bệnh nhân lại khó thở nên ngày 21/8/1998 Bệnh nhân đã đến khám tại Viện Tai mũi họng và được chẩn đoán là sẹo hẹp khí quản – khó thở thanh quản độ 1. Xét thấy đây là một ca bệnh khó và phức tạp nên ngay từ lẫn khám đầu tiên (ngày 21/8), Bác sĩ Hương (làm việc ở phòng soi) đã mời Bác sĩ Duyền (phụ trách Khoa cấp cứu B7) hội chẩn. Sau khi có kết quả soi thanh – khí quản trực tiếp, Bác sĩ Duyền đã thống nhất chẩn đoán: sẹo hẹp khí quản khó thở thanh quản độ 1, và đã bứt phê “Đề nghị bệnh nhân nhập viện”. Song không hiểu vì lý do gì mãi đến 10 giờ ngày 22/8 Bệnh nhân mới đến xin nhập viện. Cùng với việc tiến hành các xét nghiệm cần thiết, lãnh đạo Khoa B7 đã cử Bác sĩ Tống Xuân Thắng đến Viện quân y 108 liên hệ xin sao lại bệnh án và hồ sơ liên quan của Bệnh nhân Liệu.
Tại bản sao bệnh án số 1877 của Viện quân y 108 do Thượng tá quân y Lương Viên ký ngày 26/8/1998 có ghi. “Ngày 7/7/1998 mổ cắt bướu nhân thùy trái tuyến giá, đường kính 6 x 8 cm. Tổ chức chắc cứng, màu trắng, sụn khí quản biến dạng… Bệnh nhân ra viện ngày 27/7/1998”. Bác sĩ Kiểm, người đã mổ bướu cho Bệnh nhân Liệu cũng xác nhận những khó khăn sau khi phẫu thuật: “Sau mổ 12 giờ, Bệnh nhân bị khó thở, đã mở khí quản. Đã làm giải phẫu bệnh lý (có bản sao kèm theo)”. Sau khi có được tóm tắt bệnh án này của Viện quân y 108, ngày 28/8 Khoa B7 đã hội chẩn và quyết định sẽ mổ khí quản và chỉnh hình khí quản trong một lần cho Bệnh nhân. Quá trình theo dõi diễn biến bệnh của Bệnh nhân Liệu tại khoa B7 từ ngày 22/8 đến trước khi Bệnh nhân tử vong không có gì đặc biệt. Xin trích bệnh án ngày 29/8: “Bệnh nhân đi lại bình thường, ăn uống tốt, khó thở nhẹ (25 lần/ 1 phút) khi nói nhiều. Chở mổ”. Như vậy là đã rõ. Ngay từ lúc nhập viện cho đến trước khi Bệnh nhân Liệu tử vong, các thầy thuốc ở Viện Tai mũi họng không có biểu hiện vô trách nhiệm hay sách nhiều đối với người bệnh.
Tuy nhiên, lại có ý kiến cho rằng: Bệnh nhân tử vong là do các thầy thuốc Khoa B7, không mở khí quản ngay từ đầu như đề nghị của nhóm Bác sĩ Khoa nội soi Cành – Hương – Hùng, ngày 21/8/1998. Về việc chẩn đoán, điều trị cho Bệnh liệu tại khoa B7, chúng tôi xin trích ý kiến của một chuyên gia Tai mũi họng, Phó tiến sĩ Nguyễn Hoàng Sơn – Chủ nhiệm khoa Tai mũi họng trẻ em: “… Chẩn đoán như vậy là rõ ràng và chắc chắn… Vấn đề sử dụng kháng sinh là hợp lý để chuẩn bị cho cuộc mổ…”.
Thế nhưng cũng lại có ý kiến cho rằng: Bệnh nhân bị khó thở mạn tính mà lại dùng kháng sinh liều cao dài ngày nên bị suy kiệt và tử vong! Lập luận này là thiếu cơ sở. Xin đưa ra mấy lý do: Thạc sĩ – Bệnh sĩ nội trú chuyên khoa Tai mũi họng Nguyễn Duy Sơn (Khoa B8 Viện Tai mũi họng) nhận xét “Với liều kháng sinh như đã dùng cho Bệnh nhân Liệu (2 gam Cefalotin/ ngày) thì không thể làm cho Bệnh nhân suy kiệt và tử vong được. Hơn nữa, Bệnh nhân chỉ khó thở thanh quản độ 1 (chỉ khó thở khi gắng sức) thì việc không chỉ định mở khi quản cấp cứu mà chỉ định mổ khí quản và chỉnh hình một lần và hợp lý”.
Chúng tôi đồng tình với lập luận của Bác sĩ Sơn và xin đưa thêm một bằng chứng thuyết phục: Trong hơn một ngày (từ lúc được khám ngày 21/8 đến lúc nhập viện ngày 22/8), Bệnh nhân Liệu ở nhà không có sự can thiệp của thầy thuốc, nhưng vẫn sinh hoạt như những ngày thường. Và trong 9 ngày không mở khí quản, nhưng được điều trị bằng kháng sinh, diễn biến của bệnh không có gì đặc biệt; tình trạng khó thở không hề tăng nặng hơn.
Vấn đề đặt ra ở đây là: Bệnh nhân Liệu tử vong vì nguyên nhân gì? Để trả lời chính xác câu hỏi này thật không mấy dễ dàng khi không có kết quả giám định pháp y. Bởi vậy, xung quanh việc Bệnh nhân Liệu tử vong còn có điều này, điều nọ, thậm chí trái ngược nhau cũng là điều dễ hiểu. Để giải quyết vấn đề này, cách tốt nhất là hãy xem xét, nhận định một cách cẩn trọng, khách quan và khoa học. Thiết nghĩ đã đến lúc Bộ y tế cần thành lập một hội đồng khoa học để làm sáng tỏ nguyên nhân gây tử vong của Bệnh nhân Phạm Thị Liệu.
Quang Trung – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Thuốc bổ với bà mẹ mang thai

Khi có thai, bản thân người phụ nữ và gia đình họ đều mong muốn mẹ và con khỏe mạnh để sinh nở dễ dàng, cháu bé sau này dễ nuôi, mau lớn, thông minh, không bệnh tật. Từ mong muốn chính đáng đó, nhiều người đã nghĩ đến việc sử dụng thuốc bổ cho người mẹ trong suốt thời kỳ thai nghén, kể cả thuốc “Tây” lẫn các thuốc “dưỡng thai” của y học cổ truyền. Vậy nên như thế nào?
Cần phải nói ngay rằng, nếu người mẹ khỏe mạnh, bộ máy tiêu hóa hoạt động bình thường, hấp thụ và bài tiết tốt, thì mọi chất cần thiết cho cơ thể đối với mẹ và thai đều có thể được cung cấp đủ thông qua lương thực, thực phẩm, qua ăn uống đưa vào và trong trường hợp đó bà mẹ không cần dùng bất cứ một loại thuốc bổ nào. Tuy nhiên, đối với một số thức ăn nào đó (như không ăn được một số thức ăn nào đó (như không ăn được thịt trâu, bò hoặc cua, ốc…), đến lúc có thai, những người này có thể càng khảnh ăn hơn nữa. Trong những trường hợp ấy, bà mẹ có thể dùng một số thuốc men được gọi chung là thuốc bổ nhưng thực chất là để dự phòng sự thiếu hụt các chất cần thiết cho sự sống cũng như sự phát triển cơ thể của mẹ và thai.
Chất sắt:
Khi có thai, nhu cầu về sắt ở người mẹ tăng lên để tạo hồng cầu ở con và dự trữ cho cả con lẫn mẹ. Vì thế nên có chế độ bổ sung chất sắt cho người có thai, nhất là ở nước ta, qua điều tra, số người có thai tỷ lệ thiếu máu rất cao (trên 50%) thì nên dùng viên sắt liên tục suốt từ khi có thai cho đến sau đẻ một tháng.
Trong thức ăn, sắt có nhiều ở rau muống, gan loài vật và trong các loại thịt đỏ như thịt bò, thịt trâu. Thuốc có sắt thường là các dạng muối sunfat, oxalat, fumarat… Các hãng bào chế thường kết hợp các muối sắt này trong các viên thuốc bổ kèm theo các yếu tố vi lượng khác và các vitamin.
Khi dùng viên sắt kết hợp và vitamin C, khả năng hấp thụ sắt sẽ tăng lên, ngược lại khi uống thuốc có sắt không nên uống kèm thuốc có độ kiềm cao vì sẽ làm giảm hấp thu: cũng không nên uống nước chè vì chất tanin trong chè sẽ kết hợp với sắt thành một muối không tan nên sắt không được hấp thụ.
Axit folic:
Là loại cần thiết cho sự trưởng thành và tái tạo hồng cầu. Nó còn tham gia vào quá trình tổng hợp axit amin và axit nucleic. Nhu cầu hàng ngày của cơ thể từ 1 – 2 mg. Khi có thai axit folic cần được cung cấp nhiều hơn, vì thế nó cũng là chất cần được bổ sung như đối với chất sắt. Axit folic thường được phối hợp cùng với sắt thành một viên thuốc dùng cho thuận tiện. Nó cũng thường có mặt trong các viên thuốc bổ hoặc trong sữa bột cùng với các yếu tố vi lượng và các vitamin khác. Trong thực phẩm, axit folic có nhiều ở men bia, gan gia súc, nấm, bắp cải, cà chua và rau xanh.
Các thuốc có canxi
Cùng với photpho, canxi là một trong hai thành phần cơ bản quan trọng nhất tạo nên hệ xương của cơ thể sinh vật. Canxi còn có vai trò tích cực trong quá trình đông máu và chức năng hoạt động của thần kinh. Khi có thai nhu cầu canxi tăng nhiều, đặc biệt trong những tháng cuối vì thai lúc đó lớn rất nhanh, có thể tăng từ 250 mg lên tới 1500 mg mỗi ngày. Canxi có nhiều trong sữa, trứng, thịt, cua, cá và rau quả. Hầu hết các viên thuốc bổ tổng hợp đều có canxi.
Các loại vitamin:
Vitamin là những hợp chất hữu cơ, đối với cơ thể chỉ cần một liều nhỏ nhưng đóng vai trò rất quan trọng không thể thiếu được trong chuyển hóa các chất giống như các hoạt động của hệ thống men trong cơ thể. Hầu hết các vitamin đều phải do thức ăn đưa vào còn cơ thể nói chung không tự tổng hợp được. Đối với mỗi người tùy theo tình trạng sinh lý hay bệnh lý, người có thai hay đang cho con bú, trẻ em đang lớn, người làm việc nặng, người bị nhiễm trùng… mà nhu cầu về vitamin tăng lên. Vì thế khi có thai có thể dùng thêm một số loại vitamin. Nhưng riêng vitamin A thì tuyệt đối không được dùng, vitamin D phải theo chỉ định của thầy thuốc. Tốt nhất các bà mẹ mang thai nên bổ sung các loại vitamin bằng cách ăn thêm nhiều hoa quả.
Các bà mẹ có thai, nếu không phải do các bệnh cần điều trị bằng một loại vitamin nào đó, muốn dùng vitamin như một thuốc bổ thì tốt nhất là nên chọn một loại thuốc có phối hợp nhiều loài vitamin và cũng thường được phối hợp với các yếu tố vi lượng khác như sắt, đồng, I ốt… với liều dùng thấp nhất (ví dụ: obimin chỉ cần dùng mỗi ngày một viên là đủ).
Về thuốc bổ hoặc thuốc dưỡng thai đông y: Nhiều người cho rằng thuốc tây “nóng” nên ưa dùng thuốc bắc hoặc thuốc nam do các ông lang bắt mạch kê đơn để “dưỡng thai”. Kinh nghiệm cho thấy với các ông lang có tay nghề cao, y đức tốt thì các bài thuốc hầu như không có hại gì cho thai nghén. Tuy vậy cả thầy thuốc đông y cũng như tân y đều không biết rõ về các hoạt chất trong các vị thuốc đó và càng không thể biết các hoạt chất trong các vị thuốc đó có tác động thế nào đến thai nhất là trong thời kỳ phôi còn đang ở giai đoạn hình thành các cơ quan, bộ phận của trẻ.
Do đó, tốt hơn cả đối với thuốc ta cũng như thuốc tây, trừ trường hợp thật cần thiết để chữa bệnh còn không nên uống bất kỳ thuốc nào với tác dụng bổ hay để dưỡng thai khi thai nghén còn dưới ba tháng. Thái độ đúng đắn và khôn ngoan nhất đối với người có thai là tự cung, tự cấp cho cơ thể mình và thai nhi các chất bổ cần thiết thông qua chế độ ăn no, ăn đủ các chất đạm, mỡ, đường, muối khoang và vitamin có sẵn trong thức ăn hàng ngày.
BS. Phó Đức Nhuận –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Nếu chẳng may uống nhầm thuốc

Thuốc có thể chữa trị khỏi bệnh mà cũng có thể gây nên bệnh. Nếu dùng không theo hướng dẫn của thầy thuốc hoặc chẳng may uống nhầm có thể dẫn tới ngộ độc. Khi bị ngộ độc thuốc nếu kịp thời xử lý, thị trường có thể cứu chữa được. Nhưng không biết cách cấp cứu thì không những người bệnh bị đau đớn mà còn để lại những biến chứng về sau, thậm chí nguy đến tính mạng.
Trong các trường hợ uống nhầm thuốc vì bất cứ lý do gì (nhầm lẫn do tình trạng tâm thần hỗn loạn, dại dột uống thuốc để tự sát…) nếu thuốc đó không phải là thuốc độc (theo bảng quy định của ngành y tế) thì có thể không có những phản ứng dữ dội, nhưng nếu là thuốc có độc tính tương đối mạnh, thì có thể xuất hiện hôn mê, co giật. Với các loại thuốc có tính kích thích đối với dạ dày và đường ruột sẽ có thể dẫn tới đau bụng, nôn mửa. Những loại thuốc có tính ăn mòn có thể dẫn tới thủng dạ dày. Uống quá liều các loại thuốc như arsenic, benzen, barbituric, có thể dẫn tới viêm gan. Uống quá liều loại thuốc sulfanilamid, có thể gây tổn thương thận. Uống quá liều các loại thuốc như chloramphenicol, antipyretic, analgesic v.v… có thể gây tổn hại đến hệ thống tạo máu của cơ thể.
Cấp cứu ngộ độc thuốc
Trước một người bị ngộ độc thuốc phải bình tĩnh, nhưng khẩn trương xem người đó uống thuốc gì (căn cứ vào các triệu chứng của người bị ngộ độc và tìm phần thuốc còn lại ở bên bệnh nhân hoặc ở đầu giường bệnh nếu có…). Trường hợp là trẻ con thì tuyệt đối không nên nôn nóng tức giận, mắng chửi, dọa dẫm các cháu, mà phải bình tĩnh dỗ dành, hỏi han tỉ mỉ để biết được là các cháu đã uống nhầm phải loại thuốc gì. Nếu uống nhầm phải mấy viên thuốc loại vitamin thì vấn đề không lớn lắm, nếu uống nhầm phải loại thuốc ngủ thì có thể bị ngủ thiếp mê đi, không tỉnh dậy được. Cho dù ngộ độc loại thuốc gì đi nữa, thì nguyên tắc sơ cứu là làm thế nào khẩn trương thải loại và ngăn cản sự hấp thu thuốc vào trong cơ thể. Lúc này không thụ động chờ xe cấp cứu, mà trong khi chờ xem đến phải nhanh chóng làm những động tác cấp cứu tại nhà.
Cấp cứu tại nhà
Gây nôn mửa: Có thể dùng các thứ như đũa, lông gà, v.v… kích thích cổ họng người bị ngộ dộc, làm cho họ nôn ra các thứ ăn uống vào da dày.
Rửa dạ dày: Nói chung, sau khi kích thích gây nôn mửa, lập tức cho người bị trúng độc uống 500 militit nước ấm, sau đó lại tiếp tục gây mửa sao cho các thứ trong dạ dày dễ nôn ra, cứ làm đi làm lại như thế vài lần, thậm chí trên đường đưa người ngộ độc đến bệnh viện cũng có thể tiến hành rửa dạ dày, gây nôn như vậy. Nếu có điều kiện có thể dùng dung dịch có từ 1/2000 đến 1/5000 thuốc tím. Nếu người ngộ độc đã bị hôn mê, thì cho họ nằm nghiêng một bên để tránh để tránh sặc các chất nôn ra và chất này không lọt vào khí quản, gây ngạt thở. Trong trường hợp biết chắc bị ngộ độc loại thuốc nào, khi rửa dạ dày có thể áp dụng các biện pháp xử lý riêng như sau:
Nếu là uống nhầm phải cồn I ốt: Cần phải cho uống ngay nước cơm, nước cháo, các loại bột quấy hoặc lòng trắng trứng, sau đó gây nôn mửa.
Nếu uống nhầm phải loại thuốc chữa nấm ở chân như salicylic acid: cần cho uống ngay nước trà ấm để rửa dạ dày.
Nếu là uống nhầm phải loại thuốc lisol: Có thể rửa dạ dày bằng nước ấm hoặc dầu thực vật, đồng thời cho uống ngay các loại như lòng trắng trứng, sữa bò, sữa đậu, làm như vậy để bảo vệ niêm mạc dạ dày, đồng thời thấm hút được chất độc, sau đó gây nôn.
Nếu không biết rõ là do thuốc gì, có thể dùng than củi nghiền vụn (hoặc bánh mì đốt cháy thành than xong đem nghiền vụn), hòa vào nước tra đặc cho người trúng độc uống để cho thấm hút các chất độc. Làm như vậy cũng có tác dụng giải độc.
Tất cả các biện pháp này cần tiến hành ngay tại nơi phát hiện ra người bị ngộ độc sau đó phải nhanh chóng đưa người bị nạn vào bệnh viện đã điều trị.
BS. Ngô Quang Thái –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Năm quốc tế người cao tuổi

Ngày 1/10/1998, Liên hiệp quốc đã chính thức công bố năm 1999 được gọi là “Năm quốc tế người cao tuổi”. Mục đích là tăng cường sự nhận thức về thúc đẩy việc nghiên cứu, trao đổi thông tin, phát huy mạnh chương trình hành động có liên quan đến người cao tuổi.
Hiện nay, trên thế giới cứ 10 người thì có 1 người từ 60 tuổi trở lên, và trong tổng số người cao tuổi thì các cụ trên 80 tuổi chiếm 11%.
Tin địa phương
Hà Nội: Phòng khám Hà Nội Medicane sau 6 tháng hoạt động (9/3/98 – 9/91998) đã khám còn tổ khám nhân đạo miễn phí cho nhiều đối tượng. Số người được khám miễn phí 1.682, người với tổng chi phí là 103.018.000 đồng.
Bắc Giang: Huyện Yên Dũng đã triển khai chiến dịch truy quét thuốc giả, thuốc kém chất lượng, thuốc nhập lậu trên địa bàn. Qua thanh kiểm tra đã có 104 vụ vi phạm, trong đó 25 vụ vi phạm hành nghề dược tư nhân, 79 vụ phi phạm về thực hiện quy chế chuyên môn, đã phạt tiền 2.200.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước. Thuốc nhập lậu tuy vẫn còn nhưng số lượng đã ít hẳn, đặc biệt là trên địa bàn huyện không có thuốc giả và không có vụ nào vi phạm quy chế thuốc gây nghiện.
Yên Bái: Hiện đã có hơn 25.000 người áp dụng bốn biên pháp tránh thai, trong đó trên 850 trường hợp thực hiện đình sản. Các tổ chức, đoàn thể xã hội cũng tích cực tham gia vận động, hướng dẫn đối tượng trong độ tuổi sinh để có ý thức về kế hoạch hóa gia đình; tổ chức chiến dịch truyền thông ở hơn 100 xã, phường với 42 xã vùng cao, vùng sâu. Ngoài ra, còn mở lớp huấn luyện vụ cho 715 cộng tác viên dân số… Nhờ đó, số cặp vợ chồng sinh con thứ ba giảm 70% so với năm 97.
Nghệ An: đã chuyển giao Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em trừ Ủy ban bảo vệ chăm sóc trẻ em sang Sở y tế quản lý. Toàn tỉnh có 1.046 điểm chống suy dinh dưỡng và 114 điểm chăm sóc trẻ em khó khăn. Các xã mới triển khai chương trình sẽ được tập huấn: thông tin, giáo dục, truyền thông; theo dõi tăng trưởng và giáo dục hồi sinh dinh dưỡng trẻ; khuyến khích nuôi con bằng sữa mẹ; thực hiện bữa ăn hợp lý cho trẻ; chăm sóc bà mẹ mang thai, bổ sung vitamin A, viên sắt cho bà mẹ, trẻ em; mọi gia đình đều dùng muối I ốt, xây dựng ô dinh dưỡng… Phấn đấu đến năm 2000, tỉnh sẽ giảm số trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng xuống 30%.
Hà Tĩnh: Để nâng cao nhận thức của cán bộ y tế và nhân dân trọng việc phòng chống viêm phổi cấp ở trẻ em, xã Thạch Kim (Hà Tĩnh) đã triển khai thực hiện Chương trình ARI; mở lớp tập huấn cho cán bộ y tế, cán bộ thôn xóm và các đoàn thể xã hội, nhất là hội phụ nữ. Những nội dung cơ bản hướng dẫn thực hiện chương trình ARI được phổ biến rộng qua hệ thống truyền thanh, hoặc chiếu video. Thạch Kim là xã đầu tiên trong trình thực hiện Chương trình ARI và buổi đầu đạt hiệu quả tốt.
Đắc Lắc: Hiện có khoảng 3000 người khuyết tật, song chỉ trên 20 người được chăm sóc và điều trị tại Trung tâm cứu trợ trẻ em tàn tật. Tỉnh đã xây dựng dự án “Cải tiến dịch vụ chăm sóc người tàn tật” cho tuyến y tế tỉnh và dự án “Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” ở y tế tuyến huyện. Cả hai dự án đều chú trọng đến đối tượng trẻ em, nâng cao khả năng phục hồi chức năng chuyên biệt, giải quyết tốt yêu cầu dịch vụ chăm sóc người tàn tật. Bệnh viện y học dân tộc và huyện Cư Jút là nơi đầu tiên được giao triển khai dự án.
Tỉnh hiện có khoảng 1000 người bị vi trùng lao A. Mặc dù Chương trình phòng chống lao đã được triển khai đến 100% cơ sở y tế huyện và thành phố, song do địa bàn rộng, dân cư không tập trung nên đến nay mới chỉ có 434 trường hợp được phát hiện. Trong số các bệnh nhân bị lao đã phát hiện 6 người nhiễm HIV.
Lâm Đồng: Từ đầu năm đến nay, các cấp Hội chữ thập đỏ đã vận động quyên góp được 1.203.000.000 đồng, cứu trợ cho 8.723 trường hợp gặp rủi ro trong những đợt mưa bão. Hội chữ thập đỏ các huyện Lạc Dương, Đôn Dương, Lâm Hà, Dạ Tẻ, Dạ Oai, Di Linh, Cát Tiên, Đức Trọng, thị xã Bảo Lộc đã quyên góp gần 300 triệu đồng và hàng nghìn công lao động, cùng lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng… sửa chữa 428 căn nhà bị bão phá hại.
Lam Đình – Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998