Mahathir Mohamad người chống chủ nghĩa đế quốc tài tình

Khủng hoảng kinh tế Châu Á đã làm cho Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad phải chịu búa rìu dư luận, khi mà dư luận đó dường như quên thành công của ông trong 17 năm cầm quyền mà chỉ chăm bẳm vào sai lầm của Mahathir Mohamad khi ông thẳng tay cách chức phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng tài chính Anwar Ibrahim. Trên thực tế tại sao lại có chuyện đó? Thật dễ hiểu, ông Anwar bị cách chức vì với tư cách là người phụ trách giải quyết khó khăn kinh tế của Malaysia, ông ta đã thúc đẩy nước này hướng theo biện pháp giải quyết của quỹ tiền tệ quốc tế, tức là theo biện pháp mà tư bản phương Tây luôn là kẻ hưởng lợi. Thực tế nhiều tháng qua đủ chứng tỏ rằng biện pháp đó làm cho tình trạng kinh tế của đất nước ngày càng tồi tệ hơn. Trong bài viết trên tuần báo phân tích số ra ngày 12 tháng 9, nhà nghiên cứu Vatchari Suwannop của Thái Lan cho rằng trong các nước Asean không có nhà lãnh đạo nào chống lại tư tưởng phương tây và có tư tưởng độc lập hơn Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohamad. Có thể khẳng định rằng trong 17 năm cầm quyền, Thủ tướng Mahathir Mohamad đã đưa đất nước này từ nghèo nàn lạc hậu tiến lên bỏ xa các nước Asean khác. Giới nghiên cứu chính trị quốc tế đều thừa nhận khả năng lãnh đạo của ông Mahathir Mohamad chưa từng kém cạnh nhà lãnh đạo nào của Asean. Thủ tướng Mahathir Mohamad nổi tiếng là người không thể mắc sai lầm trong mọi quyết định của mình vì ông có đủ kinh nghiệm của mình trong cuộc đời từng trải qua nhiều biến động của lịch sử thế giới. Điều đó khiến ông luôn quyết đoán, nhà lãnh đạo 73 tuổi này là nhà hoạt động nổi tiếng nhất của Malaysia từng chứng kiến đất nước mình trong cảnh thuộc địa như tế nào, được thấy sự xấu xa của bọn phương Tây lấn át người dân bản xứ ra sao. Khi lên nắm quyền, ông coi chính sách hòa đồng làm nguyên tắc lớn trong việc lựa chọn người vào bộ máy Nhà nước, cố gắng xây dựng nước Malaysia đa sắc tộc cùng chung vốn, khác với Indonesia mỗi khi nảy sinh vấn đề kinh tế lại đổ vấy cho người Hoa. Phản ứng của những người không ủng hộ Mahathir Mohamad thật khôi hài và thiểu não. Một thông tin từ trang Diễn đàn của tờ Business Times số ra ngày 13 tháng 7 năm 1998 đã châm biếm rằng những người dân chủ tự do vốn chưa quen với quan điểm độc lập dân tộc để đưa Malaysia tách ra khỏi sự kiểm soát, can thiệp của phương tây đã co rúm lại khi Mahathir Mohamad gợi ý rằng việc buôn bán tiền tệ cần phải cấm hoặc nếu được phép thì phải tuân theo các luật lệ quốc tế nghiêm ngặt. Họ cũng co rúm lại khi Mahathir Mohamad nói về một âm mưu làm suy yếu các nền kinh tế châu Á và họ cho rằng ông bị bệnh hoang tưởng. Và họ không chỉ co rúm lại mà còn toát mồ hôi khi Mahathir Mohamad nhấn mạnh các nước đang phát triển đang bị thực dân hóa bởi chủ nghĩa tư bản mới, còn gần đây nhất, họ đã co rúm lại khi Mahathir Mohamad đề xuất việc các nước đang phát triển buôn bán theo thể thức hàng đổi hàng để thanh toán giữa hai bên. Tương lai của Malaysia sẽ ra vào còn phải tiếp tục theo dõi, nhưng sau khi nước này ban hành biện pháp độc quyền để chống lại đường lối kinh tế phương Tây thì thị trường chứng khoán Kuala Lumpur đã có dấu hiệu khá lên. Tư bản Mỹ sẽ dùng thủ đoạn nào để trừng phạt Malaysia? Thủ tướng Mahathir Mohamad chắc sẽ phải tiếp tục tìm cách đối phó. Nhưng điều quan trọng là cần phải khen ngợi ông là nhà lãnh đạo dũng cảm nhất, người dám xét lại chủ nghĩa đế quốc trong lĩnh vực tài chính tiền tệ.
Trung Sỹ-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 48(809)1998

Bệnh giun sán ở trẻ em

Nhiềm giun sán là bệnh thường gặp ở trẻ em tại các nước đang phát triển trên thế giới do ô nhiễm môi trường, do điều kiện vệ sinh và tập quán ăn uống lạc hậu. Giun sán gây nhiều tác hại đối với sức khỏe và khả năng chống bệnh tật ở trẻ em, không xử lý kịp thời giun sán có thể gây nên những tác hại, biến chứng ảnh hưởng tới tính mạng của trẻ.
Các loại giun sán thường gặp ở trẻ em: các loại giun sáng thường nhiễm vào cơ thể theo con đường miệng qua thức ăn, bàn tay nhiễm bẩn. Ấu trùng giun sán từ phân làm nhiễm bẩn môi trường, thức ăn đi vào cơ thể. Sau khi vào dạ dày, ấu trùng thường chui qua niêm mạc dạ dày vào máu lên phổi, rồi theo khí quản, thực quản xuống ruột và trở thành giun trưởng thành sống ký sinh trong cơ thể. Có nhiều loại giun sán thường gặp ở trẻ em là: Giun đũa sống ở ruột non, có thể tới hàng trăm con, ăn các chất dinh dưỡng làm trẻ thiếu ăn gầy suy dinh dưỡng. Giun móc sống ở tá tràng thường hút máu để sống, làm trẻ mất máu và thiếu máu, dẫn đến có thể chết vì suy tim. Giun kim thường sinh sản rất nhanh, cư trú ở đại tràng, thường xuyên gây rối loạn tiêu hóa, phân lỏng, ngứa hậu môn gây quấy khóc. Giun tóc thường sống ở đại tràng, gây rối loạn tiêu hóa và gây thiếu máu. Các loại sán như sán là ruột, sán dây cư trú ở ruột, ăn các chất dinh dưỡng hoặc sán lá gan nhỏ hoặc sán lá gan lớn là trẻ thường xuyên đau bụng, rối loạn tiêu hóa, xơ gan thậm chí có thể tử vong. Các loại giun sán trên ký sinh trùng trong cơ thể, thường đẻ hàng nghìn trứng theo phân ra ngoài gây ô nhiễm môi trường, khi phân gây nhiễm bẩn đất, thức ăn và khi theo thức ăn qua miệng vào cơ thể và trở thành giun sáng trưởng thành. Khi quá trình lây nhiễm kéo dài từ môi trường, cơ thể trẻ càng, có nhiều loại giun và các loại sán nhiều lứa tuổi khác nhau.
Khi nhiễm giun trẻ thường bị:
Đau bụng thường gặp nhất khi nhiễm giun đũa, giun móc. Đau có thể đột ngột rất ngắn ở quanh rốn khi trẻ đói trong 2 đến 3 phút, nhưng cũng có thể đau như viêm, loét dạ dày khi trẻ bị giun móc. Đau dữ dội thường xảy ra khi gặp biến chứng như giun chui ống mật, giun chui ruột thừa, tắc ruột do giun…
Biếng ăn: trẻ hay lợm giọng, buồn nôn, chẩy nước dãi, xanh xao gầy còm, có thể ỉa ra giun hoặc nôn ra giun.
Xanh xao thiếu máu nặng da trắng bệch, niêm mạc nhợt khi nhiễm giun móc, tình trạng thiếu máu có thể dẫn tới suy tim, phù và thậm chí trẻ có thể bị tử vong.
Tình trạng kích thích trẻ thường quấy khóc khó ngủ do giun kim gây ngứa dữ dội ở hậu môn, làm trẻ khóc đêm kéo dài, mất ngủ, khi ngủ trẻ có thể nghiến răng hoặc đái dầm. Khi có các biến chứng, các triệu chứng thường rất nặng, phần lớn gây nên do giun, sán chui vào các cơ quan khác như đường mật, gan, tụy gây nhiễm trùng đường mật, áp xe gan, viêm tụy cấp hoặc sinh sản nhiều gây tắc ruột, hoại tử ruột và viêm phúc mạc dẫn tới tử vong. Trẻ còn có thể nôn ra giun và ỉa ra giun, khi trẻ có nhiều giun sán thường đào thải ra giun, đốt sán ra theo đường phân, hoặc nôn ra giun. Do vậy khi thấy giun ra theo phân cần tẩy giun ngay cho trẻ. Hậu quả đau bụng thường xuyên, tràn lan, tiêu chảy làm giảm số năng lượng cần thiết, làm giảm hấp thu ở ruột, mất chất dinh dưỡng và máu qua ruột làm trẻ dễ bị suy dinh dưỡng.
Đề phòng bệnh giun sán không phóng uế bừa bãi, trẻ nhỏ đi cầu vào dụng cụ có nắp đậy, sau đó đổ vào hố xít. Cắt móng tay, không để cát bẩn bám vào. Rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi ngoài bằng xà phòng. Rau sống, hoa quả phải rửa kỹ, sạch nhiều lần bằng nước sạch trước khi ăn. Không uống nước chưa đun sôi. Thức ăn nấu chín phải đậy cẩn thận trước khi ăn để tránh bụi, ruồi. Không ăn quà bánh ở hàng quán vỉa hè.
Khi nào cần tiến hành tẩy giun
Khi có các biến chứng của giun như đau bụng, bán tắc ruột do giun, giun chui ống mật, rối loạn tiêu hóa do giun. Hoặc khi trẻ có biểu hiện tống giun ra ngoài như ỉa ra giun hoặc nôn ra giun. Lúc này đưa trẻ đi xét nghiệm phân sẽ thấy có nhiều trứng giun. Cần tẩy giun định kỳ hàng năm, 1 năm tốt nhất 1 lần cho trẻ. Ở những vùng có nguy hiểm, có ô nhiễm cao là 6 tháng nên tẩy giun một lần.
PV-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 48(809)1998

Để vị thành niên có thêm cơ hội nhập và phát triển

Việc đáp ứng các nhu cầu sức khỏe sinh sản của vị thành niên và thanh niên là một thực tế. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện quyền kiểm soát đời sống tình dục và sinh sản của bản thân chính là tạo cơ hội để họ tham gia vào quá trình phát triển.
Có một thực tế ngày nay vị thành niên có xu hướng trưởng thành về mặt tình dục sớm hơn, hôn nhân muộn hơn. Trưởng thành tình dục sớm hơn, hôn nhân muộn hơn cũng có nghĩa là kéo dài thêm thời kỳ thanh thiếu niên phải đối mặt với những rủi ro liên quan đến hoạt động tình dục. Tình dục sớm dù là trong hay ngoài hôn nhân kể cả do bạo lực và lạm dụng tình dục đều đem lại nhiều rủi ro nghiêm trọng các em gái lâm tình trạng có thai sớm, dễ tử vong do thai sản, bệnh tật nhiều, dễ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục, con cái họ cũng phải chịu nhiều rủi ro, thai nhẹ cân, chậm phát triển thể lực và trí tuệ, suy sinh dưỡng, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn tiêu chảy, viêm phổi… Có thai sớm ngoài ý muốn thường là hậu quả của tình trạng thiếu thông tin và dịch vụ SKSS, hoặc do quan hệ tình dục không sử dụng biện pháp tránh thai hoặc biện pháp tránh thai không hiệu quả. Có thai ngoài ý muốn tất dẫn đến nạo phá thai không an toàn và sinh con ngoài ý muốn ngoài dự định trở thành gánh nặng lâu dài cho bản thân và gia đình. Các em gái và phụ nữ chưa chồng mà có con sẽ không được xã hội chấp nhận và sẽ gặp khó khăn về việc làm và kinh tế, nếu có hôn nhân cũng là ngoài ý muốn và không đúng lúc, làm gián đoạn việc học hành, thậm chí phải bỏ học. Theo báo cáo của Qũy dân số Liên hiệp quốc tế “Tình trạng dân số thế giới năm 1998”, hiện tại có nhiều người trong số 530 triệu thanh niên tuổi từ 15 đến 19 có hoạt động tình dục, có đến 3 phần 4 số phụ nữ trẻ chưa chồng mang thai ngoài ý muốn, một nửa số ca nhiễm HIV mới thuộc nhóm tuổi 15 đến 24. Chỉ riêng năm 1997, đã có khoảng 3 triệu thanh thiếu niên tuổi 15 đến 24 bị nhiễm HIV, trong đó có 2 phần 3 là nữ. Các em gái tuổi từ 15 đến 19, mỗi năm cho ra đời là 15 triệu trẻ sơ sinh. Tử vong ở lứa tuổi này do các bệnh liên quan thai sản cao hơn nhiều do những nguyên nhân khác. 73 triệu trẻ em từ 10 đến 14 tuổi đã phải lao động kiếm sống chưa kể vài chục triệu trẻ em, hầu hết là các em gái phải làm người giúp việc nhà. Ở các nước đang phát triển, có tới 59% số em gái và 48% số em trai không được học ở bậc trung học. Ngoài gánh nặng gia đình hôn nhân, con cái, lao động nặng nhọc, VTN ngày nay còn phải đương đầu với những thách thức ngày càng tăng về sự bóc lột, đối xử tàn tệ, rồi chiến tranh và xung đột chủng tộc và cả sự thay đổi về đạo đức, luân lý, lối sống cũng tác động đến đời sống nữ VTN. Vì vậy, hơn bao giờ hết, VTN cần có sự hỗ trợ của gia đình, cộng đồng và xã hội để phát huy tiềm năng của mình, tạo dựng một tương lai tốt đẹp cho bản thân và xã hội, đồng thời tránh xảy ra những thiệt thòi, rủi ro, bất hạnh. Với các em gái, đặc biệt các em thuộc những gia đình nghèo khổ, và phụ nữ trẻ thì giáo dục học vấn sẽ giúp cho họ có nhiều cơ hội được chăm sóc y tế, đưa ra những quyết định hệ trọng của cuộc đời như là việc lựa chọn hoạt động tình dục muộn, thời điểm lấy chồng, thời điểm sinh con đầu, số con, khoảng cách giữa hai lần sinh con, lựa chọn Biện pháp tránh thai thích hợp, an toàn và hiệu quả. Phụ nữ trẻ, cùng với đó cần được đào tạo, hướng nghiệp, tạo việc làm, bảo đảm cho họ một cuộc osongs cá nhân và gia đình ổn định, có cơ hội tiếp xúc hội nhập xã hội và phát triển.
Bạch Thông-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 48(809)1998

Ngọc Châu những nốt nhạc lời ca trong đêm

Gặp anh ngoài đường. Người ta dễ có cảm giác Ngọc Châu đang lang thang tìm kiếm cái gì đó. Vẻ ngơ ngác ở đôi mắt sau cặp kính trắng lấp lóa trên gương mặt khá tròn đã tố cáo chất nghệ sỹ nơi anh. Người xưa nói tam thập nhi lập, Ngọc Châu đã thực hiện được điều đó. Tuổi trẻ của anh là sự nỗ lực, phấn đấu để không phải nương nhờ vào bóng của mẹ cha. Dẫu gì thì cũng phải công nhận là Ngọc Châu được thừa hưởng nơi người cha là nghệ sĩ độc tấu đàn bầu Ngọc Hướng và người mẹ là Nghệ sĩ ưu tú Vũ Dậu nổi tiếng của mình cái gen và lòng yêu say mê âm nhạc. Thế mà bạn có hình dung nổi cậu bé Ngọc Châu ngày nào ương bướng, quyết không chỉ nhập học, dù đã thi đỗ vào trường nhạc hay không? Bỏ học như cơm bữa, nuôi trong lòng ước muốn trở thành diễn viên sân khấu dân tộc của bộ môn gì cũng được. Để rồi trưởng thành như hôm nay. Lý do?… Có lẽ do lớn nên đổi tính cô Dậu cười xòa gỡ giùm con trai. Hiện giờ anh ngập chìm trong hàng núi công việc: Sáng tác ca khúc, nhạc sỹ, ca sỹ thể hiện, đạo diễn âm nhạc, phối hợp âm phối khí và công tác quản lý vì anh là đội trưởng đội Ca nhạc nhẹ của Đoàn ca nhạc nhẹ trung ương. Anh liệu có tham lam quá không? Liệu rồi có thành loại người cái gì cũng biết một tý… hay không? Ngọc Châu chỉ cười và nói gọn bằng một câu là hãy phát triển tất cả mọi khả năng mà mình có. Cho đời và cho mình, sự tự tin, hăm hở cùng khao khát thành đạt cứ cháy lên. Anh dồn cho nó tất cả sức trẻ, năng lực sáng tạo và những ước vọng khó nói nên lời. Ngọc Châu có một số vốn sáng tác đáng kể thế nhưng công chúng chỉ mới biết đến một góc rất nhỏ qua những ca khúc: Thì thầm mùa xuân, Ngây thơ, Nếu điều đó xảy ra, Chiều xuân… Với những ca khúc là những gì thật nhất trong con người mình do đó càng khó tíh với bản thân bao nhiêu càng sống tốt hơn bấy nhiêu. Anh yêu màn đêm. Đêm thanh tịnh và ta sống thật với ta hơn. Trong đêm, cảm xúc tràn về xua đi thật nhiều nỗi lo toan, ồn ã của cuộc sống đời thường. Trong đêm, những nốt nhạc, lời ca cứ tự đến ngân nga, du dương quyến rũ, gần gũi mà cũng thật khó nắm bắt. Anh chăm chút, nuôi dưỡng từng bài ca như nuôi từng mầm sống. Ngọc Châu thực sự hạnh phúc vì tất cả những điều đó. Khoảng khắc giao thời cho Ngọc Châu sẽ điểm vào lúc nào? Để cho “Có một chiều, chiều xuân như thế”. Nắng ngập tràn hồn em ngất ngây mùa xuân, có bao giờ chân trời xanh thế. Như mắt em ngày đầu gặp anh thực tồn tại trong anh? Chúng ta hãy chờ vì album sẽ ra đời cuối năm nay do anh tự sáng tác, biểu diễn, phối âm, phối khí… sẽ ngập tràn tình yêu. Liệu Ngọc Châu có còn cứng đầu như xưa trước niềm mong mỏi của mẹ mau có một nàng dâu ngoan hiền không.
Biết sai phải sửa
Hôm đầu tiên đưa con đến lớp mẫu giáo, nghe cháu thưa: “Con chào cô ạ!, thật dễ thương, khác xa với lối xưng – hô bất luận giáo viên có tuổi hay chưa, đều nhất loạt: “Thưa cô, em…” hoặc “Thưa thầy, em…”. Hồi còn đi học, ban đầu tôi nghe thế lấy làm lạ lắm, nhưng thấy ai cũng gọi như vậy, nên không lạ nữa. Tuy vậy trong lòng vẫn còn thắc mắc. Đến bây giờ, khi đã trưởng thành tôi mới nghĩ rằng, xưng hô thế nào cũng còn tùy vào trường hợp và hoàn cảnh cụ thể. Ví như một người nào đó, lúc thì thấy gọi là con, khi lại nghe gọi là cha, có gì lạ! Vì sự thực sự là thế. Hiểu rồi, nên không còn bận tâm. Hôm nay, trước khi đèo con đến lớp bà xã kéo tôi lại đinh ninh dặn trong bọc quần áo của con đem đến lớp, có ba túi quà gửi biếu các cô giáo… Đưa con đến lớp, khi đưa bọc quần áo của con cho cô giáo cất, tôi thực hiện đúng lời vợ dặn: Thấy các cô vui vẻ nhận, tôi yên tâm rằng đã hoàn thành nhiệm vụ do vợ giao phó. Chiều, lúc đến đón con, nghe một cô giáo phàn nàn: “Cháu hôm nay khóc ghê quá anh ạ, cả bốn cô phải xúm vào, mới dỗ được cháu đấy…!”. Khi nghe nói vậy, lúc đầu tôi còn ngơ ngác, nhưng lập tức hiểu ngay cái câu ý tại ngôn ngoại, trong lòng trách bà xã vô tâm đến thế thì thôi, vội gửi lại con, chạy ào ra phố, mua… để sửa sai. Ôi. Muốn sang sông thì bắc cầu kiều.. Cũng còn may là biết sai mà sửa chứ.
Tin văn hóa – văn nghệ
Hội chợ thời trang năm 1998.
Từ ngày 19 đến ngày 25 tháng 11 năm 1998, tại Trung tâm Hội chợ triển lãm Hà Nội diễn ra hội chợ thời trang năm 1998 do Trung tâm Hội chợ triển lãm Việt Nam phối hợp với Tổng công ty dệt – may, Tổng công ty da giày và Hội mỹ nghệ kim hoàn Việt Nam tổ chức. Hội chợ sẽ trưng bày các sản phẩm thời trang độc đáo hàng đầu của các doanh nghiệp tham gia với nhiều cuộc trình diễn thời trang tại hội trường lớn. Kết thúc cuộc triển lãm Hội chợ sẽ bình chọn và trao giải thưởng thời trang Việt Nam năm 1998.
Hạnh Loan-Sức khỏe & Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – Số 47(808)1998

Văn minh nông nghiệp và làng xã – Phần 2

Khác với Phương Đông, ở Tây u vào thời Phục hưng (từ thế kỷ 15), đô thị công nghiệp – thương mại không nằm trong hệ thống phong kiến, dần dần giữ vị trí chủ đạo của sản xuất và kinh tế xã hội, đã làm tan rã hệ thống phong kiến và đưa xã hội đến những đột biến phát triển khác hẳn sự vận động tiệm tiến chậm chạp trước đó. G. Nê – ru đầy mơ ước về một nông thôn mới chưa từng có trên quê hương sông Hằng vĩ đại của ông (mà sau khi Độc lập, từ 1948, những ước mơ canh tân đất nước và nông thôn của G. Nê – ru đã biến thành hiện thực. Ấn Độ là tác giả “cuộc cách mạng xanh”, đặc chế tạo được tầu ngầm, vệ sinh, nguyên tử…).
Trong những năm 70 – 90, nông nghiệp, nông thôn và nông dân được thảo luận sôi động ở Đông u, Liên Xô, Trung Quốc, Việt Nam,… Nhân việc G. Nê – ru bàn về làng xã, chúng tôi đưa thêm một vài kết luận chưa mất đi tính thời sự của vấn đề này.
Viện sĩ P. Pakh trong luận văn “Về sự chậm trễ của bước quá độ từ chế độ phong kiến sang chế độ tư bản ở Đông u qua thí dụ nước Hung – ga – ri” cũng đã chỉ ra rằng “Nguyên nhân cơ bản của sự chậm trễ đó chính là sự bền chắc của quyền lực và cấu trúc của chế độ phong kiến nông nô”. (Lịch sử Cận – hiện đại, 1986, Số 5). Còn như các nhà tư bản Đông u thì chỉ là “Các nhà tư bản tập sự, nhưng lại vẫn là các chúa đất dầy dạn kinh nghiệm. Chúng suy nghĩ về giá cả và tổ chức khác hẳn các phạm trù giá cả, trả công lao động, và lợi nhuận của tư bản thực thụ”.
Các nhà khoa học Liên Xô (cũ) gần như nhất trí với các kết luận rằng:
NÔNG DÂN NGA là nông dân trung lưu (năm 1913 có mức lương thực bình quân 658 kg/ người), có bản phẩm hàng hóa và có nhiều hướng thị trường hóa để thực hiện thực hóa năng lực sản xuất (nhu cầu ăn); không có nhu cầu thị trường nên đã mang tâm lý chống thị trường, càng co lại trong phương thức tự cấp, tự túc, càng củng cố chủ nghĩa bình quân… (Bài của A.S. Mungruzin. So sánh nông dân Trung Quốc nửa phong kiến với nông dân Nga tiểu tư sản. Những vấn đề Viễn Đông, 1984). (Trước năm 1945, Việt Nam có mức bình quân lương thực 217 kg/ người).
Toàn bộ lô – gich trình bầy của G. Nê – ru dẫn đến những nhận thức rằng: để chuyển đổi có tính chất đột biến với nông thôn, nông nghiệp và nông dân thì phải chuyển đổi sản xuất và kinh tế theo hướng làm ra của cải bằng công nghiệp và thương mại (hàng hóa và thị trường); chuyển đổi cấu trúc làng xã và cơ chế quyền lực; giải quyết thỏa đáng các mối quan hệ sở hữu v.v…
Hoàng Linh –Sức khỏe& Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Văn minh nông nghiệp và làng xã – Phần 1

Trong mấy nghìn năm lịch sử, các xã hội Phương Đông vẫn luôn bảo lưu tính kế thừa nhưng không diễn ra bất cứ sự đột biến nào. Xã hội rơi vào vòng luẩn quẩn thăng trầm; các triều đại và các hoàng đế khi thịnh, khi suy, cứ thay thế nhau trên cái nền tảng kinh tế – xã hội nông nghiệp – làng xã. G. Nê – ru trình bày sức kìm chế sản xuất và tiến bộ xã hội cũng như bản chất tước đoạt và văn bám của hệ thống phong kiến già cỗi. “Hệ thống phong kiến thâu tóm trong phạm vi của nó cả mặt đất lần bầu trời”. Và trong hệ thống ấy, trước bọn lãnh chúa và vua quan thì thân phận con người… đều được bình đẳng “Mọi người đều bằng nhau, nghĩa là bằng con số không” (lời F. Ăng – ghen), bản chất ấy giống nhau cho cả phong kiến châu u và châu Á.
Mặt khác, G. Nê – ru chỉ rõ thực lực kinh tế vô cùng nhỏ bé và bấp bênh của người nông dân. Các chủ đất lớn dần dần nuốt chửng các chủ đất nhỏ; đẩy nông dân vào tình trạng “đói ruộng đất” triền miên, một phần do dân số tăng lên rất lớn, gây nên tình trạng dư thừa lao động. Ngoài nghề nông, họ không có bất cứ công việc nào khác; trừ một vài nghề phụ gia đình.
Công xã nông thôn tồn tại như những nước cộng hòa trị tự bé nhỏ, tự cấp tự túc, lại “độc lập” trong ý nghĩa là không phụ thuộc vào bất cứ quan hệ nào với thế giới bên ngoài. “Phát triển và tiến bộ chỉ xuất hiện khi có sự giao lưu, hiệp tác của những đơn vị ngày càng lớn hơn. Khi một cá nhân hay một nhóm người thu mình lại thì họ ngày càng có nguy cơ trở thành những người vị kỷ, hẹp hòi, thiển cận… Vì vậy, mặc dù các công xã nông thôn có những mặt tích cực nhất định nhưng không thể trở thành những trung tâm tiến bộ” như các thành phố Tây u thời Trung cổ.
Do vị trí kinh tế nhỏ bé, nghèo khổ và tăm tối nên nông dân có chiều hướng liên kết thành bè phái, phe nhóm, số đông; lấy số đông của nhóm, của “tập thể” để áp đảo cá nhân, cốt giữ lấy những lợi ích quá mỏng manh của họ. Thành quả lao động của họ phải chia ra làm 3 phần: một phần nộp thuế cho Nhà nước, một phần cho họ, còn một phần thứ ba rất nặng nề, phải nộp cho tầng lớp trung gian, là bộ phận thừa và ăn bám rất tệ hại nằm trong cấu trúc của xã hội phong kiến. Không ít nông dân cũng nuôi khát vọng “có quyền”, “có lợi” như bọn trung gian là bộ phận không hề có tác dụng nào đối với hoạt động sản xuất. Sức nặng và sức níu kéo của guồng máy phong kiến nằm ở lớp người này, mà G. Nê – ru đã ví như “bánh xe thứ 5 rất nặng nề trong một cỗ xe”.
“Nhà thờ thời Trung cổ ở Tây u là một chủ sở hữu ruộng đất rất lớn. Cho nên, rất dễ hiểu tại sao nhà thờ thời đó lại ra sức bảo vệ trật tự phong kiến hiện hành; không muốn bất kỳ mọi sự biến đổi nào trong xã hội, chống lại tất cả những tư tưởng mới và tiến bộ; giam hãm xã hội trong lạc hậu, tăm tối”. (mà vụ án để đời là họ “xử tội” những nhà khoa học Ga – li – tê, Eru – no). Bởi vì, chuyển đổi và tiến bộ sẽ làm “mất đi” đặc quyền, đặc lợi của họ!
Hoàng Linh –Sức khỏe& Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Đêm biển

Sóng triều luẩn quẩn cơn mê
Biển sôi tung ánh trăng khuya lên ghềnh
Phòng đêm mở cửa cho mình
Gió vào bắt chuyện, dựng mành lại ra
Người ở gần, bạn ở xa
Ngoảnh vào gặp bóng, ngoảnh ra gặp trời
Tóc ơi mau bạc đi thôi
Tóc lau bạc tự trong nôi nữa là
Sớm mai thơ thẩn bước ra
Gặp chồi cúc muộn nở hoa bên hè
Hoa thu gắng đợi xuân về
Ngả nghiêng như mách điều chi với người
Săn sóc người nhiễm HIV… tại gia đình
HIV xâm nhập vào cơ thể chúng ta theo cách nào?
HIV chỉ có thể xâm nhập vào cơ thể theo các đường vào sau đây:
Qua sinh hoạt tình dục không được bảo vệ với một người bị nhiễm, nghĩa là, không dùng bao cao su khi sinh hoạt tình dục.
Qua tiếp xúc với máu bị nhiễm, ví dụ: Truyền máu bị nhiễm; dùng chung các dụng cụ sắc đi qua da, như dùng kim tiêm không khử trungfl tiếp xúc khi có các vết thương hoặc vết loét hở.
Do mẹ bị nhiễm truyền cho thai nhi hoặc sơ sinh.
HIV được tìm thấy với số lượng lớn ở các dịch sinh học (các chất tiết âm đạo và tinh dịch) và máu. HIV xâm nhập dễ dàng qua các màng mỏng (niêm mạc) của âm đạo, dương vật, hậu môn và mồm, ở đó các niêm mạc mỏng và có huyết quản ở ngay dưới niêm mạc nên HIV xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua sinh hoạt tình dục không được bảo vệ từ nam hoặc nữ bị nhiễm.
Các dụng cụ sắc nhọn đi qua da như kim bơm tiêm, kim châm cứu, dụng cụ bấm lỗ tai, dao cạo râu và các dụng cụ sử dụng bởi nha sĩ hoặc thầy thuốc v.v… nếu không được khử trùng đầy đủ cso thể truyền HIV cho người khác. Khi dụng cụ hoặc trang bị đã sử dụng cho người nhiễm HIV lại dùng cho người khác mà không được khử trùng tẩy uế, khi đó máu còn lại có HIV sẽ truyền sang cho người khác. Bơm tiêm và kim, đặc biệt có thể mang HIV vì thương có lượng máu hoăc dịch dính lại trong bơm tiêm mà chúng ta không phát hiện được.
Người mẹ bị nhiễm HIV truyền cho con trong giai đoạn thai nghén hoặc trong thời kỳ chuyển dạ hoặc sau khi đẻ do sữa mẹ truyền sang.
Các đường mà HIV không truyền bệnh
Chúng ta cần phải biết HIV không lây truyền qua tiếp xúc hàng ngày, tai gia đình, nơi làm việc, trường học… Hiện nay trong cộng đồng nhiều người chưa hiểu biết bệnh AIDS nên hay lo sợ và không chấp nhận người nhiễm HIV, dẫn đến cô lập những người nhiễm HIV và gia đình của họ. Người nhiễm HIV/AIDS cần được chăm sóc nâng đỡ, sống chan hòa trong gia đình. Tất cả mọi người cần phải biết HIV/AIDS không lây truyền qua các tiếp xúc thông thường trong sinh hoạt (sống trong cùng một nhà; cùng hít thở một bầu không khí; ho và hắt hơi; tại cơ sở làm việc; trên các phương tiện và vận chuyển công cộng ô tô, tàu hỏa…; tại chợ; tại trường học; tại các sân chơi…). Ngay cả khi có các tiếp xúc trực tiếp như: bắt tay, ôm ấp, hôn trên môi, tay, hoặc trán… Hoặc khi sử dụng chung trong gia đình và nơi công cộng: nhà vệ sinh, khăn tắm, bể bơi, nước tắm giặt; dụng cụ ăn uống, dụng cụ để làm việc. Hay khi bị đốt hoặc cắn bởi muỗi, cháy rận, các côn trùng khác, các động vật.
Làm thế nào để tránh nhiễm HIV/AIDS?
Người chưa bị nhiễm HIV để tránh nhiễm, cũng như người đã bị nhiễm HIV phải có ý thức phòng tránh truyền bệnh cho người khác bằng các biện pháp sau:
Dự phòng lây truyền qua sinh hoạt tình dục:
Sử dụng bao cao su để đảm bảo tình dục an toàn. Thực hành tình dục an toàn bao gồm: chung thủy vợ chồng; dùng bao cao su trong hoạt động tình dục; tránh sinh hoạt tình dục khi bạn tình có các vết loét hở hoặc nghi mắc bệnh hoa liễu.
Dự phòng lây truyền từ mẹ sang con:
Khi người mẹ nhiễm HIV mang thai có nguy cơ truyền bệnh cho con và làm cho bản thân tình trạng bệnh lý nặng lên. Nhóm phụ nữ này cần biết rõ về HIV/AIDS và sử dụng bao cao su trong sinh hoạt tình dục để tránh làm lây bệnh cho bạn tình. Khi có thai họ cần uống thuốc dự phòng (như AZT) để tránh làm lây sang con hoặc nạo thai sớm.
Dự phòng lây truyền qua truyền máu:
Chỉ truyền máu trong điều kiện bệnh lý nguy kịch. Nếu bắt buộc phải truyền, chỉ dùng máu đã được sàng lọc HIV.
Dự phòng lây truyền qua các dụng cụ tiêm chích:
Khi cần dùng thuốc hết sức tránh sử dụng các thuốc tiêm. Khi bắt buộc phải tiêm thuốc cần biết rõ kim và bơm tiêm đã được đun sôi hoặc đã tiệt trùng chu đáo chưa (nên sử dụng loại bơm kim tiêm dùng một lần). Tránh và cấm ngặt tiêm chích ma túy. Không sử dụng chung dao cạo râu.
Người nào cần phải thử nghiệm HIV và khi nào?
HIV được khuyên nên thử nghiệm khi:
Bản thân lo âu có thể bị nhiễm vì sinh hoạt tình dục không bảo vệ, truyền máu không sàng lọc HIV, dùng chung bơm kim tiêm; có bạn tình đã bị nhiễm.
Thử nghiệm HIV là thế nào?
Ngay sau khi nhiễm HIV, thường trong khoảng thời gian từ 6 đến 12 tuần cơ thể đáp ứng tạo ra các kháng thể chống vi rút. Thử nghiệp HIV là thử nghiệm máu để tìm kháng thể đặc hiệu có trong máu để tìm kháng thể đặc hiệu có trong máu chứ không phải phát hiện bản thân vi rút. Kết quả của thử nghiệm HIV có tác động rất lớn tới gia đình, các mối quan hệ, tới công việc và cuộc sống bản thân nên khi thử nghiệm phải được sự đồng ý tự nguyện, các kết quả thử nghiệm phải được sự đồng ý tự nguyện, các kết quả thử nghiệm phải được giữ kín nghĩa là, chỉ chia sẻ với cá nhân đó hoặc những người có trách nhiệm.
GS. Đào Đình Phước –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Văn minh nông nghiệp và làng xã

Cho đến những năm 80 và 90 của thế kỷ này, “NÔNG THÔN, NÔNG NGHIỆP, NÔNG D N” vẫn là những vấn đề còn treo lơ lửng trong không trung trên phạm vi toàn thế giới”. Đó là những vấn đề to lớn và phức tạp; có vị trí và vai trò rất quan trọng đối với sự định hướng kinh tế – xã hội của rất nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển thuộc thế giới thứ ba.
G. Nê – ru đã để nhiều tâm lực và trí tuệ của mình soi sáng công xã nông thôn của Ấn Độ và của rất nhiều nước. Nếu V. I. Lê – nin coi nông dân và ruộng đất và ruộng đất là cái ĐINH của Cách mạng dân chủ tư sản Nga thì G. Nê – ru coi làng xã là cái CHỐT để lý giải sự chậm trễ của Phương Đông và để đi tìm lối ra cho nó…
Rõ ràng là 4 nền văn minh tiên phong của nhân loại đều là 4 nền văn minh nông nghiệp, có điểm tựa là NƯỚC, nên còn gọi là Những nền văn minh nước. Từ những bộ lạc nguyên thủy, được xem là đạt đến xã hội văn minh thời cổ đại khi nó hội đủ 4 điểm xuất phát. Ngay trong xã hội nông nghiệp thời cổ đại, người ta vẫn phải thấy 2 trong 4 yếu tố thuộc về kỹ thuật (kim khí, đồ đồng), công cụ sản xuất; đô thị và thương mại. Các nhà khoa học đã khẳng đỉnh rằng chiếc cầy đồng, riu đồng là dao đồng có hiệu quả cao hơn từ 4 đến 8 lần các công cụ ấy bằng đá. F. Ăng – ghen thì nêu bật vai trò đô thị và thương mại cổ đại mà sức mạnh của nó đã vượt ra ngoài các phạm vi chật hẹp. Sự lan rộng của thương mại còn nhân nhanh những phát minh kỹ thuật đạt được ở một vùng nhỏ hẹp khiến địa phương khác không phải mầy mò làm lại phát minh đó. Ấn Độ cũng như Trung Quốc nằm trong tình trạng lạc hậu lâu dài; đến như cái cầy, cái cuốc, cái guồng tát nước ở đầu thế kỷ này cũng chẳng khác gì các dụng cụ ấy ở đầu công nguyên (2000 năm).
Trong 4 tieu chí hình thành văn minh nông nghiệp cổ đại thì 2 tiêu chí đã gợi ý cho loài người rằng không có CÔNG NGHIỆP, KỸ THUẬT, THƯƠNG MẠI, ĐÔ THỊ ngày càng phát triển thì NÔNG NGHIỆP mãi mãi lạc hậu. Các yếu tố đó đặc biệt phát triển ở Hy Lạp, La Mã cổ đại rồi trở thành hướng phát triển chủ đạo của kinh tế Tây u và ngược llaij, thuần nông và trọng nông là hướng phát triển chủ đạo của Phương Đông, công và thương bị đẩy xuống vị trí thứ yếu. Thời huy hoàng của thương mại Ấn Độ thống soái trên biển đã đi trước hàng chục thế kỷ so với sự thống soái trên biển của Anh ở thời Cận đại. Nhiều phát minh kỹ thuật sớm bậc nhất của Trung Quốc, cũng là của thế giới, đã không đẩy lên cao hơn được nữa. Ở thời Trung cổ “Công trường thủ công và sự vận động của sản xuất nói chung đã phát triển phi thường nhờ sự mở rộng của thương nghiệp mà việc tìm ra châu Mỹ và con đường biển sang đông Ấn Độ đã mang lại. (H. L trích thêm ý kiến của F. Ăng – ghen. Hệ tư tưởng Đức H., Sự thật, 1984).
Hệ thống làng xã Ấn Độ là sự trộn lẫn làng xã người bản địa Đra – vi – đa với những biến dạng làng xã mới do người A – ri – en đem đến. Ở thời cổ đại, Ấn Độ cũng có các thành bang như ở Hy Lạp nhưng những đô thị ấy tồn tại rất ngắn ngủi rồi bị các vương quốc phong kiến nuốt chửng và làng xã tiểu nông trải ra khắp Ấn Độ. Ban đầu, làng xã Ấn Độ được xây dựng như một trại lính để tự vệ chống lại những cuộc tấn công từ bên ngoài. Làng nào cũng có hình tam giác vuông, có tường cao bao bọc, trổ ra 4 cổng lớn và 4 cổng nhỏ. Giữa làng là một ngôi nhà lớn công cộng hoặc là một cây đại thụ, nơi hàng năm các già làng và cư dân đi bầu Hương trưởng. Nhưng với thời gian, chút dân chủ làng xã nhỏ nhoi ấy cứ bé dần trong khi hệ thống đẳng cấp làng xã và xã hội càng bến chắc thêm. G. Nê – ru viết: “Ở nông thôn, hệ thống đẳng cấp trì trệ, mất hết tính năng động uyển chuyển. Sự phân hóa và tôn ti giai tầng quá chi ly chỉ làm cho đất nước ngày càng suy yếu”. Giam hãm trong cái vòng tự cấp, tự túc; ruộng đất ngày càng ít đi; công cụ không thay đổi… đất nước Ấn Độ biến thành một đất nước “nghèo khổ đến mức đáng sợ” trong hàng nghìn năm.
G. Nê – ru đến nhận định khái quát về làng xã Ấn Độ rằng: “Các triều đại thì đổi thay nhưng cái CẤU TRÚC xã hội, dựa trên hệ thống nông nghiệp thì cứ tiếp tục tồn tại mà không có biến đổi gì đặc biệt. Hệ thống đẳng cấp của công xã trong hàng nghìn năm là cơ sở gắn kết cuộc sống của đất nước Ấn Độ đã đóng vai trò không những ngăn trở mọi sự biến đổi và phát triển mà thực sự còn chặn đứng không gian của mọi sự phát triển đi lên” công và thương ở Ấn Độ bị xếp hạng 3, hạng 4 của hệ thống đẳng cấp xã hội.
“Cũng giống như ở Ấn Độ thì ở Trung Hoa sức mạnh của hệ thống xã hội cũng nằm ở nông thôn và ở hàng chục triệu, hàng trăm triệu nông dân. Hệ thống đẳng cấp đã củng cố hệ thống xã hội thì chính nó cũng chứa đựng những mầm mống suy thoái. Sự bất công và bất bình đẳng cũng được củng cố lâu đời trên mảnh đất đẳng cấp ấy”. Làng xã ở 2 nước lớn có nền văn minh lớn nhất cũng là lãng xã điển hình của Phương Đông thời cổ đại, trung đại và cận đại. Nó sẽ như thế nào ở thời hiện đại?
Hoàng Linh –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Vật Việt Nam trước thềm ASIAD

Thiếu đi sự ồn ào sôi động trên các sới vật ngoài trời đầu xuân như mọi năm, giải vô địch VTD – VCĐ toàn quốc năm nay được tiến hành nghiêm túc, trang trọng tại nhà thi đấu Hà Nội từ 26 – 31/10/98 với chất lượng chuyên môn khá cao. Nếu như những năm trước, giải quy định mỗi hạng cân chỉ 1 vận động viên thi đấu ở các lứa tuổi thì năm nay đã có bước cải tiến rõ rệt trong hệ thống thi đấu quốc gia, góp phần thúc đẩy trình độ chuyên môn của các vận động viên. Giải được tách riêng, chỉ dành cho vận động viên từ 17 tuổi trở lên, còn giải trẻ dành cho các lứa tuổi (14 – 15; 15 – 16; 16 – 17) đã được tổ chức vào tháng 4 vừa qua rồi Thanh Hóa. Ban tổ chức giải cũng không giới hạn số lượng vận động viên tham dự ở mỗi hạng cân nhằm tuyển chọn vận động viên tham dự Asiad’ 98 và phát triển phong trào chung.
Vật cổ điển Việt Nam lần đầu tiên có giải thi đấu quốc gia nhưng đã chứng tỏ sự trưởng thành và vai trò của mình. Nhớ lại năm ngoái trước Sea games 19, Ủy ban thể dục thể thao có mời một chuyên gia người Nga sang hướng dẫn các đô vật Việt Nam tập luyện và thi đấu tại Sea games 19 môn vật cổ điển. Từ đó vật cổ điển được phát triển khá mạnh nhanh trong làng vật Việt Nam, đến giải này vật cổ điển có 9 hạng cân thi đấu (hơn 1 hạng cân so với vật cổ điển).
Đặc biệt, giải năm nay, các tỉnh thành tham dự đều có sự chuẩn bị, đầu tư khá, riêng Hà Nội đầu tư cả về chiều sâu, mời học chuyên gia người Gruzia sang trực tiếp tuyển chọn và huấn luyện cho lớp vận động viên vật trẻ Hà Nội chuẩn bị cho Sea games 2003 tại Hà Nội. Theo đánh giá của giới chuyên môn các đô vật trẻ Hà Nội sẽ là chủ nhân của các huy chương quốc gia trong khoảng 2 – 3 năm nữa. Sau nhiều năm cố gắng các đoàn Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Thái Bình… đã xứng đáng có huy chương. Đặc biệt trong giải lần này các quy định, điều luật, kỹ thuật mới được phổ biến trong lớp đào tạo Huấn luyện viên, trọng tài vật do quỹ đoàn kết quốc tế IOC tổ chức tháng 9 vừa qua đã được áp dụng và bổ sung ngay. Song vẫn còn một vài trọng tài vật cổ đại đôi khi tỏ ra lúng túng trong các pha xử lý. Nhưng nhìn chung giải đạt nhiều kết quả tốt đẹp, không có một đơn kiện, khiếu nại nào trong suốt tuần lễ diễn ra. Và để hoàn thiện, củng cố dần hệ thống thi đấu, ông Lê Ngọc Minh – trưởng bộ môn võ thuật cho biết Cúp quốc gia dành cho vận động viên đẳng cấp (cấp I, kiện tướng) sẽ được tổ chức lần đầu tiên vào tháng 12 tới (sau Asiad) tại Bắc Giang và sang năm 1999 sẽ có thêm giải năng khiếu cho hệ thống vận động viên các trường năng khiếu của các tỉnh thành trong cả nước.
Được sự đầu tư của Ủy ban thể dục thể thao ngay từ đầu năm các Vận động viên đội dự tuyển vật đã tập huấn với các chuyên gia Nga tại Trung tâm huấn luyện thể thao quốc gia 1 để chuẩn bị cho Asiad’98. Theo nhận xét của 2 chuyên gia Nga Stanislav (vật cổ đại) và Robert (vật tự do) các vận động viên Việt Nam đã có nhiều tiến bộ đáng kể, đặc biệt điểm yếu về kỹ thuật đánh bò đã được khắc phục dần, thể hiện là hầu hết các tuyển thủ quốc gia từng đoạt huy chương ở Sea games 19 đều khẳng định vị trí số một của mình tại giải lần này. Theo các ông nếu mỗi môn vật, chúng ta cử 8 vận động viên, thay vì 3 vận động viên đi thi đấu tại Asiad’98 thì khả năng tranh chấp huy chương của Việt Nam sẽ cao hơn và kết quả chuyên môn sẽ thể hiện rõ hơn. Sau giải 20 vận động viên mỗi môn vật chỉ được nghỉ 1 ngày rồi lại tiếp tục lao vào chặng đường nước rút cuối cùng đến cuộc đua đỉnh cao Á vận hội 13. Với đà này vật Việt Nam sẽ bước tiếp những bước đi vững chắc để trở thành cường quốc về vật không chỉ trong khu vực Đông Nam Á mà tiến lên cấp châu lục. Mọi mong ngóng, hy vọng trước mắt đều dồn ở kết quả của các nhà vật Việt Nam tại Asiad tới. Cầu chúc cho họ sẽ chắp cánh bay cao trên đấu trường Á vận hội ’98.
TM –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998

Cây thuốc kỳ diệu

LTS: Lại một lần nữa tên tuổi các vị giáo sư nổi tiếng đầu ngành y tế bị lợi dụng nhằm mục đích không lành mạnh. Loại tài liệu mang tên “C Y THUỐC KỲ DIỆU: Cây Hoàn Ngọc”, có ghi tên tác giả là: Giáo sư. Nguyễn Trọng Nhân – nguyên Bộ trưởng Bộ y tế – Chủ tịch Hội chữ thập đỏ Việt Nam, đã lưu hành trái phép trong phạm vi cả nước trong thời gian gần đây. Giáo sư. Nguyễn Trọng Nhân đã chính thức có ý kiến về việc này. Chúng tôi xin đăng nguyên văn bức thư của ông gửi Tổng biên tập báo Sức khỏe & Đời sống để bạn đọc trong và ngoài thành y tế cảnh giác trước các tài liệu không rõ nguồn gốc.
Kính gửi: Ông Lê Thấu
Tổng biên tập Báo sức khỏe & đời sống
Trong thời gian gần đây, xuất hiện một tài liệu (có bản sao kèm theo) nói về “Cây thuốc kỳ diệu Hoàn Ngọc (Nhật Nguyệt)” bên dưới ghi rõ họ tên, chức vụ của tôi và lưu hành rộng rãi, đặc biệt là những tỉnh miền Trung. Tôi rất tiếc là ai đó đã làm việc này.
Đúng là có những cỏ, cây còn có những tác dụng mà ta chưa biết hết, việc sử dụng cây thuốc chữa bệnh được khuyến khích phát triển không riêng ở Việt Nam mà còn cả thế giới. Nhưng nếu đúng là một loại cây thuốc mới (chưa có trong danh mục cây thuốc Nam) có tác dụng chữa bệnh thì cần phải có sự thẩm định của hội đồng khoa học mới chính thức đưa vào vào dược điển của Y học cổ truyền dân tộc.
Vài tháng trước đây, tôi đã có công văn trả lời Sở y tế Đà Nẵng và một số nơi là bài giới thiệu về cây này không phải do tôi viết và mong cải chính giúp. Hiện nay tài liệu này được lan rộng ở nhiều nơi trên phạm vi cả nước, nên xin nhờ Báo sức khỏe & đời sống, Cơ quan ngôn luận của Bộ y tế cho đăng bài thông báo sự việc này và cải chính giúp tôi.
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Ông.
Chúc ông mạnh vui.
Không đắt một lời cảm ơn
Báo sức khỏe đời sống có lần nói tới văn hóa trong y tế. Về quan hệ ứng xử, tôi thấy nhân viên y tế hiện nay thường quá hà tiện một lời cảm ơn. Không phải các đồng chí ấy không tôn trọng người tìm tới mình mà dường như chỉ là chuyện thói quen. Hàng ngày, nhân viên y tế tiếp xúc với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân như: thu viện phí, mượn và trả đồ dùng, thăm hỏi giao đãi nhưng thường thiếu từ cảm ơn và xin vui lòng.
Nếu như sau mỗi lần tiếp xúc, Bệnh nhân ra viện, thanh toán, trả đồ dùng… có thêm một lời cảm ơn và ánh mắt nhiền thiện cảm “giao lưu” thì hẳn tình cảm người bệnh với ngành y tế sẽ thắm thiết hơn nhiều. Rất thông cảm với các đồng chí quá bận nhưng không phải vì bận mà không đủ thời gian thể hiện sự thông cảm, quan hệ của mình với người bệnh. Chúng ta sống trong thời bình và chiến tranh đã qua đi từ lâu, nhưng “tác phong thời chiến” vẫn còn lại trong khi ở các ngành khác, họ rất coi trọng ứng xử giao tiếp, nhất là trong ngành bưu điện hiện nay.
Đó là khách sáo và giả dối không trong những trường hợp sau:
Cô y tá thu tiền viện phí, đưa trả hóa đơn kèm lời “cảm ơn”.
Bác sĩ yêu cầu người nhà bệnh nhân ra khỏi buồng bệnh, thay vì câu “Ra đi, ra đi, đến giờ bác sĩ trưởng khoa (hay giáo sư) đi thăm bệnh nhân rồi “bằng câu lịch sự hơn: “Xin các bác, anh chị vui lòng thực hiện nội quy bệnh viện” hoặc “Xin quý vị vui lòng ra ngoài để giáo sư thăm bệnh nhân”.
Điện thoại gọi đến, thay vì “a lô, ai đấy” bằng một câu tự giới thiệu trước “Khoa X, bệnh viện xin nghe”.
Ai đó vừa cảm ơn bác sĩ, bác sĩ lịch sự như một lời đáp lễ “không có gì!”
V.v… v.v…
Được biết ngành y thường xuyên có các cuộc thi, hội thao về y tá giỏi, nhân viên điều dưỡng giỏi… song nên chăng cần có thêm những cuộc thi như người nhân viên y tế lịch sự, duyên dáng, ứng xử hay. Trong cuộc thi này, ban giám khảo đưa ra những tình huống hay đóng vai bệnh nhân, người nhà bệnh nhân giao tiếp với thí sinh. Bên cạnh các cuộc thi nếu được tổ chức, thiết nghĩ Bộ y tế và các Sở y tế nên có những văn bản quy định cụ thể về giao tiếp đối với nhân viên y tế, thậm chí cả những ngôn ngữ hành chính bắt buộc thể hiện sự tôn trọng đối tượng giao tiếp trong hoạt động nghề nghiệp.
Tại các cơ sở y tế hiện nay, các Bác sĩ y tá và nhân viên khác rất tận tụy nhưng dường như vấn đề giao tiếp ứng xử chưa dược đặt ra nên đã tạo ra không khí thiếu thoải mái trong người bệnh. Các cơ sở y tế không chỉ chữa bệnh mà còn thể hiện tính văn hóa của những người được nhân dân gọi là THẦY THUỐC.
Phạm Đình Duy –Sức khỏe&Đời sống/ Bộ Y tế – Hà Nội – 1998