Bệnh di truyền

thể căn cứ vào đặc thù hình thái của nhiễm sắc thể để hỗ trợ trong việc chấn đoán bệnh di truyền lâm sàng.

4. Thế nào là bệnh di truyền

Bệnh di truyền là các loại bệnh do thay đổi vật chất di truyền gây ra (ví dụ như đột biến gen hoặc dị biến nhiễm sắc thể), ở người đã phát hiện khoảng 4000 bệnh di truyền, mỗi năm số loại bệnh di truyền phát hiện mới khoảng hơn 100 loại, đây cũng là nhân tố ảnh hưởng nghiêm trọng nguy hại đến sức khỏe của con người, hơn nữa còn truyền cho thế hệ tiếp theo ô những mức độ khác nhau.

Chúng ta đã biết rằng, sự huyền bí của di truyền của con người nằm ở gen có trong nhân tê bào. Các gen nắm trong tay “quyền hành to lớn” về di truyền, chúng có thể phát sinh những thay đổi về mặt kết cấu, vế hình thái, về sô lượng…cũng tức là, rất nhiều thông tin từ bô mẹ do nhiêm sắc thể mang đến thông qua gen được truyền cho thê hệ sau. Trong sô” 23 cặp nhiễm sắc thể ở người, có khoảng 50000 cặp gen di truyền; vì thế thường xuất hiện một vài phần tử khác lạ do nguyên nhân nào đó cũng là chuyện tự nhiên. Có thể nói rằng, mỗi người chúng ta đều có khả năng mang trên mình một sô’ gen bất thường có khiếm khuyết ỏ những mức độ khác nhau. Hay nói cách khác, hầu như mỗi người chúng ta đều có thể là người mang theo một hoặc một vài gen bệnh di truyền, nhưng chưa biểu hiện ra bệnh chỉ là vi, khi thụ tinh, một gen khác thường của người bố hoặc người mẹ được một gen khác của bên kia thay thế, tức là được gen bình thường che lấp.

Chảng hạn, một gen nào đó của người cha bất thường, còn gen tương ứng ở cơ thể mẹ bình thường; đứa trẻ được sinh ra từ sự kết hợp trong trường hợp này tuyệt đại đa sô đêu có biểu hiện bình thường. Thực chất, trong cơ thể những

Ngoài ra những cán bệnh do nhiễu gen và các tác dụng tương hỗ giữa các phân tử môi trường gây nên như hở môi, hở hàm. rạn cột sống…xác suất con cái bị mắc bệnh là tương đồì cao. Còn có một số bệnh di truyển do một trong haí bên bồ hoặc mẹ có gen bị khiếm khuyết, có thể biểu hiện ra là bệnh ồ thẻ hệ con cái. Cách đi truyền này là bệnh di truyền tinh trôi, như thiếu máu tê bào hình lưỡi liếm là một cán bệnh về máu có nguy cơ trực tiếp đến sinh mạng, tỷ lệ mắc bệnh ở thế hệ con cái khoảng 25%. Bên cạnh đó, còn thường gặp bệnh di truyền còn có khả năng do số lượng, kết cấu hoặc việc sắp xếp các nhiễm sắc thê ảnh hưỏng đến thai nhi gây ra.

5. Phương thức di truyền và các loại bệnh di truyền

Các loại bệnh đi truyền ỏ người có rất nhiểu loại, cách thức của bệnh dí truyền cũng rất đa dạng, nhưng có thể chia thành ba loại: Bệnh đơn gen. đa gen và nhiễm sấc thể. Phương thức di truyền của các loại bệnh như sau:

1. Di truyền bênh đơn gen là bềnh do một gen gây ra

(ĩ) Bệnh di truyền tính trạng trội nhiễm sắc thể thường: Chẳng hạn như: bệnh ruột kết di truyền trong gia đình, chứng múa giật di truyển, bệnh xương mểm, bệnh quáng gà, bệnh tiểu đường thận, bệnh Cholestron cao trong máu, bệnh nhiểu ngón dị hình, bệnh sụp mí mắt bẩm sính, tê liệt tứ chi mang tính chu kỳ đi truyền trong dòng tộc, điếc thần kinh mang tính di truyền, viêm mũi di ứng, bệnh phỏng dạ mãn

 

Tế bào và gen di truyền

chăn tằm lấy tơ”. Nội hàm của câu nói này chính là di truyền; vạn vật trong giới tự nhiên đều tuân theo những quy luật di truyền nhất định duy trì nòi giông, chẳng hạn như động vật cùng loại chỉ có thể sinh ra được những thế hệ tiếp sau cùng nòi giông, đồng thời kê thừa những đặc trưng cơ bản của thê hệ trước đó. Trâu thì sinh ra nghé, dê thì sinh ra dê con, thê hệ tiếp theo của mèo là mèo…đôi vối loài người, thân hình cao hay thấp, mắt to hay nhỏ, mũi cao hay thấp, thậm chí ngay cả dáng đi cũng có những điểm giông vối bô mẹ, giữa thê hệ bô” mẹ và thế hệ con cái, và giữa các cá thê trong sô” con cái tồn tại hiện tượng tương đồng và khác biệt. Di truyền và biến dị là hai hiện tượng phổ biến tồn tại trong giối sinh vật, giữa chúng có mối quan hệ thông nhất và đối lập. Đối với con người, tính di truyền duy trì sự ổn định của những đặc trưng sinh lý và hình thái vốn có của con người, như vậy, con người mới sinh sôi nảy nỏ qua các thê hệ nối tiếp nhau.

Bạn có muốn tìm hiểu về sự huyền bí của di truyền không? Thế nào là di truyền? Tại sao lại dẫn đến di truyền? Cơ sỏ vật chất của di truyền là gì? Và còn rất nhiều điều nữa, chúng ta sẽ cùng bắt đầu từ tê bào và gene di truyền.

2. Tế bào và gen di truyền

Sự tồn tại của cơ thể sống với đơn vị cơ bản nhất là tế bào, rất nhiều các tế bào (khoảng 100.000 tỷ tế bào) hình thành nên các hệ cơ quan và các loại tổ chức trong cơ thể, duy trì chức năng sinh lý bình thưòng của cơ thể. Mỗi sự sống đều được bắt đầu từ một tế bào thực hiện phân chia và phát triển thành thai nhi.

Gen di truyền nằm ỏ đâu? Gen di truyền nằm trong nhân tê bào, có một loại vật chất màu sẫm tên là Nhiễm sắc thể, ân chứa trong nó những mật mã thông tin về di truyền sinh
vật. Tổng cộng có 23 cặp (46 chiếc) nhiễm sắc thể ỏ người trên mỗi nhiễm sắc thể đêu có mang theo gen di truyền. Gen là đơn vị cơ bản của di truyền. Gen có những đặc trưng sau:

(1) Tính ổn định: gen có thể sao chép lại một cách “trung thực” bản thân nó; không có tính ổn định này, nòi giống của sinh vật sẽ không thể kéo dài tiếp nôi nhau.

(2) Có thể kiểm soát được sự trao đổi chất của tê bào, điều này cũng cần thiết cho việc duy trì sự sống.

(3) Gen cũng có thể phát sinh “đột biên”, làm cho sự sông tiến hóa và phát triển.

Có thể nói, di truyền có tính quy luật, con người có thể lợi dụng tính quy luật của di truyền gen để phát huy tính tôt, hạn chế tính lặn, cô” gắng hạn chế sự di truyền những gen không có lợi cho sự sinh tồn của loài người, để những thê hệ tiếp theo của dân tộc sẽ ngày càng ưu tú, hậu sinh khả úy, cải thiện tô” chất gen của loài người có thể nâng cao tô chất của con người.

3. Nhiễm sắc thể – Vật chất di truyền

Chúng ta đã biết vấn đề then chốt của di truyền chính là chức năng của nhiễm sắc thê. Trong tê bào của cơ thể con người có 23 cặp nhiễm sắc thế, khoảng 50000 cặp gen di truyền, trong đó, 22 cặp (44 chiếc) gen trong nhân tê bào là nhiễm sắc thể thường, nam và nữ đều giống nhau; ngoài ra, có một cặp nhiễm sắc thể giói tính là nhiễm sắc thể quyết định giối tính của con người, con trai là nhiễm sắc thể X kết hợp với Y tạo thành XY, con gái là nhiễm sắc thể X kết hợp với X thành XX. Thông thường, căn cứ vào kích thưốc lớn nhỏ, vị trí của điểm kết hợp (vị trí nối ỏ phần trên và dưối của nhiễm sắc thể) sắp xếp thành 7 nhóm (từ nhóm A – G), đánh sô từ 1 đên 22 và XY, mỗi cặp nhiễm sắc thể đểu có dạng đai (xoắn) mang tính đặc trưng nhất định. Chúng ta có

Muốn có thai sau khi uống thuốc tránh thai

(3) Các sản phẩm hóa dược như: kem tránh thai, viên đặt tránh thai, màng thuốc tránh thai…: Sau khi sử dụng những loại thuốc này mà vẫn bị mang thai thường làm cho thai nhi dị hình. Bỏi lẽ nguyên tắc tầc dụng hóa học của thuôc là giết chết tinh trùng để đạt được mục đích tránh thai, do vậy, nếu sử dụng những loại thuốc này mà vẫn thụ thai thì mang thai trong trường hợp này thai nhi sẽ rất dễ dị dạng.

(4) Vòng tránh thai, màng ngăn âm đạo và thời kỳ an toàn: đây là những cách sử dụng phương pháp vật lý để cản trở quá trình kết hợp giữa tinh trùng và trứng, nếu mang thai trong trường hợp này thì trứng được thụ tinh sẽ không có bất cứ nguy hại nào, thai nhi không bị dị dạng.

(5) Triệt sản: cả nam và nữ đều có thể làm phẫu thuật để tránh thai. Nguyên lý của phẫu thuật tránh thai là cản trỏ quá trình kết hợp của tinh trùng và trứng bằng việc thắt ông dẫn tinh ở nam giói hoặc thắt ống dẫn trứng ở nữ giới. Nếu đã thực hiện phẫu thuật mà vẫn bị mang thai thì mang thai trong trưòng hợp này thường thai nhi sẽ không bị dị hình.

9. Có thai trở lại bao lâu sau khi dừng uô’ng thuốc tránh thai thì tốt

Nếu muốn có thai sau khi uống thuốc tránh thai thì tốt nhất là đổi sang dùng vòng tránh thai trong thời gian trên nửa năm rồi có thai là an toàn nhất. Lúc này, chức năng phát tiết trong buồng trứng và sự thay đổi màng trong tử cung đều đã khôi phục trỏ lại quá trình sinh lý tự nhiên vốn có của nó, nên sẽ có lợi cho việc kết hợp giữa trứng và tinh trùng cũng như quá trình sinh trưởng của thai nhi, sinh ra được một em bé khỏe mạnh.

Do uông thuốc tránh thai ức chế quá trình phát tiết bên trong của buồng trứng đôi với hoocmôn sinh dục nên nếu có thai ngay sau khi dừng uông thuốíc tránh thai, lúc này cơ chế
phát tiết bên trong buồng trứng vốn có chưa được hoàn toàn điều chỉnh trở lại, làm cho màng tử cung rất mỏng, dễ làm cho trứng đã được thụ tinh bám không chắc, ảnh hưởng đến sự phát triển của thai nhi hoặc gây ra sẩy thai. Do vậy tốt hơn là nên chuyển sang phương pháp dùng vòng tránh thai tiếp tục tránh thai sau sáu tháng thì có thai trở lại.

10. Nam giới sử dụng thuô’c không hợp lý có thể làm thai nhi bị dị hình

Thai nhi bị dị hình, thường thì người ta hay xem xét nhiều từ góc độ ngưòi phụ nữ, nhưng thói quen sinh hoạt và ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc của những ông chồng chuẩn bị làm bô” cũng là nhân tô” quan trọng không thể xem nhẹ. Sử dụng thuốc không hợp lý có thể gây ra biến dạng tinh trùng. Nếu tinh trùng bị biến dạng kết hợp vối trứng sẽ làm cho thai nhi bị dị hình. Vì thế, khi phải dùng thuôc, cần chú ý đọc hướng dẫn sử dụng, xem xem liệu có tác dụng phụ nào ảnh hưỏng đến hệ sinh dục bài tiết hay không. Chẳng hạn, loại thuốc Cyclophosphamide mà mọi người đều khá quen thuộc sẽ làm cho tinh trùng biến dị, có thể gây ra thai nhi không não, não tích nưóc, màng não phồng lên, sứt môi, hở hàm, thiếu hụt ngoại nhĩ đạo…Còn nếu dùng Xêtôn tinh hoàn trong một thời gian dài sẽ nguy hiểm đến việc sản sinh ra tinh trùng, thậm chí còn có thể gây ra hiện tượng không tinh trùng. Người viết xin đặc biệt chú ý về vấn đề này.

II. DI TRUYỀN VÀ ƯU SINH

1. Thế nào là di truyền

Bất kể là động vật, thực vật hay con người đều không thể tách ròi nhân tố di truyền, trong dân gian có câu ngạn ngữ: “trồng dưa được dưa, trồng cà được cà hay làm ruộng lấy lúa,

Những căn bệnh ảnh hưởng tới việc mang thai

ngơi tốt, các loại áp lực sẽ làm cho người phụ nữ bị mắc các bệnh như suy nhược thần kinh, kinh nguyệt không bình thường, thông kinh; đồng thời còn có khả năng bị viêm bộ phận sinh dục hoặc viêm màng trong tử cung, tắc ông dẫn trứng thậm chí không mang thai sau khi kêt hôn. Vì thế, trước khi kết hôn, các bạn nữ cần tự tôn, tự trọng, học cách tự bảo vệ mình. Bạn nam cần tôn trọng bạn nữ, và có tinh thần trách nhiệm.

6. Có thai ngay sau khi kết hôn

Dân gian gọi việc có thai ngay sau khi kết hôn là “Tọa sàng hỷ”, người ta còn cho rằng, sinh ngay được thằng cu bụ bẫm thì niềm vui sẽ được nhân đôi. Trên thực tế, việc có thai ngay sau khi kết hôn tồn tại một số nhân tố bất lợi.

Việc chuẩn bị cho đám cưới làm tiêu hao rất nhiều sức lực, vật lực của cả hai bên nam nữ; thêm vào đó, trong những ngày đại hỷ của đám cưới, sẽ không tránh khỏi việc uống rượu, tiệc tùng giao lưu bạn bè, vừa mất tinh lực lại mất sức. Thêm vào đó, nếu cơ thể thấy khó chịu, tùy ý uống một chút thuốc vào… tất cả những nhân tô” này đều không có lợi cho việc mang thai.

Có ngưòi thống kê rằng, nếu so sánh các bà mẹ mang thai vào thời kỳ đầu ngay sau đám cưới vối các bà mẹ mang thai sau khi đã nghỉ ngơi một thời gian sau đám cưới thì các bà mẹ mang thai vào thời kỳ đầu ngay sau đám cưới hay bị huyết áp cao, sảy thai, khó sinh…Vì thế, các đôi vợ chồng mới cưới cần chú ý điều này.

Sẽ rất tốt khi sức khỏe của hai vợ chồng được khôi phục sau khi cưới, tinh thần thoải mái hơn, cùng nhau học tập những kiến thức về mang thai và sinh con, chuẩn bị sẵn sàng cả về mặt tinh thần và vật chất cho việc chào đón đứa trẻ ra đời.

7. Những căn bệnh ảnh hưỏng đến việc mang thai

Sức khỏe của người mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến sư phát triến của thai nhi, quá trình mang thai cũng chính là thời gian làm cho những loại bệnh mà bà mẹ mắc phải trở nên trầm trọng hơn. Vì thế, những người mắc các bệnh như tim, thận, gan, trao đổi chất, cường tuyến giáp trạng, cao huyết áp, bệnh kết hạch, tiểu đường và các bệnh bất thường về tinh thần cần rất thận trọng khi mang thai, tôt nhất nên xin ý kiến của các bác sỹ chuyên khoa.

8. Những lựa chọn sau khi tránh thai thất bạỉ

Cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật, ngày càng có nhiều các phương pháp tránh thai đê lựa chọn, nguyên nhân tránh thai thất bại cũng khá phức tạp, thông thường rơi vào một sô trường hợp sau đây:

(1) Uống thuốc tránh thai: hiện tại hai loại thưòng sử dụng trong nưốc là loại có hiệu lực trong thời gian dài và trong thời gian ngắn đều có chứa hoocmôn sinh dục. Cơ chê tránh thai của thuốc tránh thai là dùng hoocmôn sinh dục có nguồn gốc từ bên ngoài để hạn chế việc tiết ra các hoocmôn sinh dục có nguồn gốc từ bên trong cơ thể, can dự vào việc tăng thêm và nội tiết bình thường của màng trong tử cung, ảnh hưởng đến chất nhầy và thành phần của dịch nhầy ở cổ tử cung, từ đó đạt được mục đích tránh thai. Nếu uống thuốc tránh thai mà vẫn mang thai thì tốt nhất không nên mang thai ấy.

(2) Dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung: Nguyên lý tránh thai của các dụng cụ tránh thai đặt trong tử cung là dùng các vật lạ để cản trở quá trình làm tổ của noãn tinh, từ đó đạt được hiệu quả tránh thai. Nguyên nhân do kích thước lốn nhỏ của dụng cụ tránh thai không thích hợp, vị trí đặt không tốt… dẫn đến mang thai; thường thì không làm cho thai nhi bị dị hình.

 

Thời điểm mang thai tốt nhất

bởi lẽ, ăn nhiều thịt sẽ làm cho đại não của thai nhi nhẵn phẳng, giảm bớt nếp nhăn trên vỏ não, ảnh hưởng đến sự phát triển trí lực của thê hệ tiếp theo. Những đôi vợ chồng mối kết hôn muôn sinh con có thể tham khảo ý kiên trên.

Lựa chọn thời điểm mang thai tốt nhất

Lựa chọn thòi điểm mang thai tốt nhất là một trong những điều kiện không thể thiếu để sinh được một đứa trẻ khỏe mạnh vế cơ thể, vui vẻ về tinh thần. Đe được như ý, cần chú ý quan sát những vấn đê sau:

1. Sáng ngủ dậy, trưỏc hết dùng cặp nhiệt độ kiểm tra nhiệt độ cơ thể khi chưa thực hiện bất cứ động tác gì.

2. Nhiệt độ cơ thể đo được có thể mô tả bằng đồ thị. Trục hoành thể hiện chu kỳ kinh nguyệt, trục tung là nhiệt độ cơ thể, gốc tọa độ là ngày bắt đầu kinh nguyệt trong tháng.

3. Nối các điểm thể hiện nhiệt độ cơ thể trong tháng thành đưòng, cán cứ vào độ cao thấp của đường này để phán đoán thời kỳ rụng trứng.

4. Đo nhiệt độ kiểm tra vào một giờ nhất đinh trong ngày.

Nhiệt độ cơ thể cơ sỏ của nữ giối có môi quan hệ vối chu kỳ kinh nguyệt. Đây chính là do tác động của Hoocmôn thai nghén. Khi hoocmôn này tiết ra mạnh thì nhiệt độ cơ thể sẽ tăng lên; khi hoocmôn này không hoạt động mạnh thì nhiệt độ cơ thể sẽ thấp. Bình thường, từ ngày bắt đầu kinh nguyệt, cho đến này rụng trứng, do mức độ hoocmôn thai nghén thấp nên cơ thể luôn có nhiệt độ thấp, thường là từ 36.2~36.5°c. Sau khi rụng trứng, trứng tiết ra hoocmôn mang thai, nhiệt độ cơ sỏ của cơ thể tăng mạnh lên đến nhiệt độ cao nhất, thường là khoảng 36.8°c.

Từ những ghi chép này có thể biết được rằng, những ngày mà cơ thể thay đổi từ nhiệt độ thấp lên nhiệt độ cao hơn được coi là thời kỳ rụng trứng, quan hệ trong thòi gian này sẽ dể thụ thai.

Trong thòi kỳ rụng trứng, phải giảrrt bớt sinh hoạt tình dục. Việc giảm bốt số lần quan hệ trong kỳ rụng trứng sẽ giúp cho nam giới dưỡng tinh để có thể sản sinh ra tinh trùng có chất lượng cao, những tinh trùng này có thể kết hợp với trứng để thụ thai.

4. Lựa chọn quần áo trong giai đoạn chuẩn bị thụ thai

Khi có ý định thụ thai, cả hai bên nam và nữ tốt nhất không nên mặc quần quá chật, như quần nilon hay quần bò…Bởi lẽ những chất vải này không thoáng khí, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây bệnh phát triển, nữ giối dễ bị viêm âm đạo, ảnh hưởng đến quá trình thụ thai. Nam giối mặc quần lót quá chật dễ làm cho tinh hoàn bị ép về phía bụng, làm tăng nhiệt độ của tinh hoàn, giảm lượng tinh trùng được sản sinh ra. Nếu thụ thai trong trường hợp này, xác suất trẻ sinh ra bị dị hình hoặc thiếu các bộ phận trên cơ thể bẩm sinh sẽ tăng cao.

5. Không thể coi thường những nguy hại của việc mang thai trước khi kết hôn

Hiện tại, do ảnh hưỏng của trào lưu xã hội, khả năng tự khống chê mình đối với tình dục của nhiều thanh thiếu niên bị giảm thấp. Một sô thanh niên đã có quan hệ tình dục khi đang yêu, và rất nhiều trong số họ đã có thai trước khi kết hôn, đành phải nạo thai. Việc nạo thai rất có hại cho cơ thể, rất nguy hại cho người phụ nữ về cả thể xác và tinh thần. Do tuổi tác còn nhỏ, cơ thể chưa phát triển thành thục, kiến thức về giói tính và vệ sinh giới còn chưa hiểu rõ, sợ người khác biết được, lại sợ người bạn trai của mình thay lòng đổi dạ và ruồng bỏ mình, sau khi nạo thai thường lại không được nghỉ

Điều kiện ưu sinh

Độ tuổi sinh đẻ tốt nhất

Theo quy định của Luật hôn nhân Việt Nam, tuổi kết hôn của nam là từ 21 tuổi trở lên, của nữ là từ 18 tuổi, về mặt phát triển sinh lý cũng như mức độ trưởng thành về tâm lý, kết hôn trong độ tuổi này sẽ có lợi cho sức khỏe của con ngưòi. Về việc lựa chọn độ tuổi kết hôn thích hợp, người xưa đã có câu “Nam nữ hòa hợp phải vào thòi điểm nhất định” hoặc “con trai tuy mưòi sáu tuổi đã tinh thông nhưng phải đến ba mươi tuổi mói lấy vợ, con gái tuy dậy thì từ lúc 14 tuổi nhưng đến 20 tuổi mối lấy chồng”; ý muốn nói, kết hôn khi đã đến một độ tuổi nhất định, khi đó cả nam và nữ mối có thể tạo ra tinh trùng và trứng khỏe mạnh, nếu không, sẽ có khả năng mắc bệnh bẩm sinh cho thế hệ sau này. Việc kết hôn ỏ độ tuổi thích hợp, để có thể “mang thai và có con khỏe mạnh”, mới có thể đảm bảo thụ thai thành công, thai nhi phát triển bình thưòng và khỏe mạnh sau khi được sinh ra.

Ở nữ, thông thường ỏ độ tuổi từ 18-23, cơ thể bắt đầu bưốc vào giai đoạn trưởng thành, nhưng ở nhiều người, phát triển tâm lý còn chưa thành thục; trong thời kỳ này, Cd thể cũng đang ở vào giai đoạn phát triển nhanh, cần bổ sung đầy đủ các chất dinh dưõng và khoáng chất; nếu mang thai sớm sẽ rất không có lợi cho cả thai nhi và người mang thai. Do vậy, độ tuổi tốt nhất để mang thai và sinh đẻ là từ 24-27 tuổi.

Mùa sinh đẻ tốt nhất

Nếu quan sát kỹ, chúng ta sẽ thấy rằng, mức độ trí lực của những đứa trẻ được sinh ra vào mùa đông thường cao hơn những đứa trẻ sinh ra vào các mùa khác. Có người cho rằng, mùa xuân là mùa chào đời tốt nhất cho thai nhi. Thông thường, những đứa trẻ sinh ra vào mùa đông, trong thời gian 6 tháng, qua thời kỳ miễn dịch bẩm sinh, có khả năng chông lại các bệnh dịch vào mùa xuân và các bệnh lây nhiễm khác. Đến mùa hè, khi đứa trẻ đã có một sức sốhg nhất định, có thế chông các bệnh của mùa hè. Những đứa trẻ ra đòi vào mùa xuân, trong 6 tháng miễn dịch bẩm sinh, có thể chống được những biểu hiện do cơ thể không thích ứng với nhiệt độ cao của mùa hè, cùng vổi sự xâm phạm của nhiều loại vi khuẩn.

Nhìn từ sự phát triển của thai nhi, thời kỳ mang thai tốt nhất là từ tháng 4 đến tháng 7. Bởi lẽ, tháng thứ 3 từ sau khi thụ thai chính là giai đoạn bắt đầu hình thành lốp vỏ đại não của thai nhi. Các nếp nhăn trên lốp vỏ não nhiều hay ít, nông hay sâu chính là cơ sở vật chất hình thành khả năng trí lực của trẻ cao hay thấp. Sau 3 tháng mang thai, bà mẹ mang thai bắt đầu có cảm giác thích ăn, lúc này phải cung cấp đầy đủ các loại dưa quả, rau xanh, đặc biệt là ăn dưa hấu sẽ rất có lợi cho việc hình thành lốp vỏ đại não, giúp bà mẹ mang thai có đủ vitamin và khoáng chất, đồng thời cũng rất tốt cho việc cung cấp một sô các nguyên tố vi lượng cho thai nhi, có lợi cho việc tăng trưởng và phát triển đại não của thai nhi. Vào giai đoạn này, bà mẹ mang thai cần tránh ăn nhiều thịt,

Sinh hoạt hàng ngày và làm đẹp sau khi sinh

Một số người sau khi sinh thì cảm thấy ản rất ngon miệng, nhưng không được ân quá nhiều, chỉ ăn vừa đủ thì thôi, nếu ăn quá nhiều, tiêu hóa sẽ không tốt; trước đây, mỗi ngày sản phụ ân mười mấy quả trúng gà, ngày nay, khỉ đời sống đã được nâng cao, việc ẩm thực cũng được đa dạng hơn, các chất dính dưỡng được cung cấp vào cơ thể từ rất nhiều loại thực phẩm, ăn trứng nhiều cũng khó tiêu hóa. Ngoài ra, mỗi bữa ăn cần kết hợp các món khô và nước, chay và mặn, ăn ít và ăn làm nhiều bữa. Hàng ngày, ngoài 3 bữa chính ra, ăn thêm 2, 3 lần hoa quả, cháo…

Nếu sau khi sinh cơ thể suy nhược, có thể dừng 2~5 gà bao tử đã mọc lông (sống), bóc vỏ, bo lông và nội tạng, rửa sạch, cho thêm vào 5g xuyên khung, 9g đương quy đun cùng. Cũng có thể dùng 120g bạch tuộc, móng giò lợn 2 chiếc ninh nhừ, uống canh và ăn thịt.

Khi thấy có ít sữa, có thể lựa chọn các cách ăn uổng như sau:

Cố chép sông rửa sạch, cho nưóc vào đun đến lúc canh có màu trắng sữa, cho chút rau báp cải hoặc rau mùi, carôt, thêm chút muối, đun sôi lên là dùng được.

Đu đủ 1 quả, gọt vỏ, bỏ hạt, xắt miếng, thịt lợn 250g, gừng tươi 50g, dấm ăn vừa đủ, cho nước vào đun chúi, khi án cho thêm chút đường.

Cá tươi lOOg, móng giò lợn 2 chiếc, cho nước vào nấu canh.

3. Các món bổ dưỡng sau khỉ sinh

(1) Đương quy, gừng tươi hầm thịt dê: ôn trung bổ huyết, trị chứng huyết hư sau khi sinh, đau bụng lạnh, mỏi lưng, bế kinh khô huyết…

Đương quy là loài thực vật gổc cỏ mọc lâu năm hình ô. Rễ cây đương quy có tính vị cam tân khổ, ôn, công dụng bổ huyết, điều kinh, hoạt huyết giảm đau, nhuận tràng thông

tiện. Gừng tươi tính vị tân, ôn, không độc, trị nôn, lạnh, có đờm. Thịt dê tính vị cam, ôn, chức năng bổ âm, đẹp da, bổ lao, ích khí, khai vị kiện lực. Cuốn “Thiên kim – Thực trị” viết: Thịt dê “Chủ noãn trung trị đau, lợi cho sản phụ”

Mỗi lần có thể dùng 30g đương quy, 250g thịt dê, cho gừng tươi vào, hầm cách thủy.

(2) Cháo đường đỏ: Sau khi sinh nỏ, tinh thần sản phụ suy nhược, sắc mặt vàng, không muốn ăn uống, món này có tác dụng bổ khí ích huyết.

Dùng lOOg gạo, đường đỏ vừa đủ, sau khi nấu chúi, ăn tùy ý, có tác dụng điều trung bổ hư, trị chứng suy nhược huyết khí sau khi sinh, ăn không ngon miệng, miệng cảm thấy khô và khát.

(3) Cỏ ích mẫu nấu trứng gà: có thể trị chứng các chất hỗn hợp thải ra ỏ âm đạo không dừng.

Cỏ ích mẫu là loại thực vật sống 1 năm hoặc 2 năm. Tính vị tân, bình. Công dụng hoạt huyết điều kinh, lợi khí tiêu chủng. Có tác dụng làm tử cung hưng phấn, tăng sức co của cơ tử cung và điều tiết tần suất co của tử cung. Có thể giúp cho tử cung của sản phụ trở lại vị trí ban đầu và giảm bớt các chất thải ra ỏ âm đạo.

Mỗi lần có thể dùng 30~60g cỏ ích mẫu, trứng gà 2 quả, cho nước vào đun cùng, sau khi trứng gà chín, bóc vỏ rồi đun thêm một lát. Ăn trứng gà và uống canh.

XVII – Sinh hoạt hàng ngày và làm đẹp sau khi sinh

Sau khi trải qua thòi ký mang thai và sinh nỏ, cơ thể người phụ nữ đã có rất nhiểu thay đổi, làm thế nào để có thể